SCREEN

Cpanel

15Tháng mười2018

Kinh nghiệm trong nước

Kinh nghiệm trong nước (13)

   Community-based Tourism Travel (CBT Travel) là một hình thức doanh nghiệp xã hội huy động được sự phối hợp liên ngành từ nhiều phía như chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng.

   1. Du lịch cộng đồng và công cuộc xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam

   Việt Nam hiện tại đang đối mặt với nhiều thách thức trong công tác xóa đói giảm nghèo. Năm 2012, báo cáo của Ngân hàng Thế giới cho thấy tỉ lệ người nghèo ở Việt Nam đã giảm từ khoảng 58% từ năm 1990 xuống còn 20,7% vào năm 2012. Tuy nhiên, vẫn còn hơn 18 triệu người có thu nhập dưới trung bình, phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp. Khi những người thuộc nhóm “dễ bị tổn thương” này rất dễ tái nghèo thì sẽ rất khó để xóa bỏ hoàn toàn tình trạng nghèo đói trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.

   “Du lịch cộng đồng” bắt đầu được quan tâm, công nhận từ thập niên 1970 thông qua nhiều đóng góp trong xóa đói giảm nghèo bằng du lịch, xem trọng sự tham gia, làm chủ, quản lý và kiểm soát bởi người dân địa phương nhằm mang lại những tác động tích cực tới cộng đồng. Tại Việt Nam, du lịch cộng đồng đang được nhân rộng theo thời gian với mục đích cải thiện thu nhập, mức sống của cộng đồng các địa phương. 

   Tuy nhiên, thực tế còn tồn tại và phát sinh trong hoạt động du lịch cộng đồng gây ra hạn chế về hiệu quả, nỗ lực cải thiện đời sống của người dân địa phương. Không thể phủ nhận rằng đa phần các dự án du lịch cộng đồng nhận tài trợ của các tổ chức phi Chính phủ (NGO) có hiệu quả thấp, thiếu kết nối với hoạt động lữ hành và thiếu khả năng đảm bảo tiêu chuẩn dịch vụ du lịch. Điều này dẫn đến lượng du khách chưa cao và giảm hiệu quả tích cực tại phần lớn các dự án về du lịch cộng đồng. Những địa điểm du lịch cộng đồng thiếu khả năng tài chính thường sụp đổ sau khi kết thúc dự án cũng như chấm dứt tài trợ. Những vấn đề này phần lớn xuất phát từ khả năng quản trị và tiếp cận thị trường kém, tập trung quá nhiều vào phát triển loại hình homestay, phần lớn doanh thu “chảy” vào túi các gia đình có điều kiện, phần lớn cư dân tại cộng đồng không được tham gia và tiếp nhận những lợi ích từ du lịch.

   2. Các hoạt động và sáng kiến bước đầu của CBT Travel

   CBT Travel được thành lập năm 2013 sau những thành công bước đầu của ông Dương Minh Bình (người sáng lập, giám đốc CBT Travel) trong công tác triển khai mô hình du lịch cộng đồng tại Mai Hịch (Mai Châu, Hòa Bình).

   Năm 2012, theo thống kê của CBT Travel thông qua UBND Huyện Mai Châu, thu nhập bình quân đầu người của huyện Mai Châu, Hòa Bình xấp xỉ 1.000 USD với 32,6% hộ dân thuộc diện nghèo và 24,1% số hộ đối mặt với tình trạng đói nghèo. Vào thời điểm năm 2011, du lịch vẫn chỉ là một khái niệm “xa lạ”. Đến khoảng giữa năm 2011 và 2013, hai tổ chức NGO quốc tế là Misereor và Brot fur die Welt đã tài trợ cho dự án phát triển CBT Travel tại Mai Hịch. Quá trình triển khai dự án gặp nhiều khó khăn do thiếu kỹ năng, kiến thức chuyên môn trong điều hành du lịch, thiếu kiến thức về thị trường và khả năng kết nối yếu với hoạt động thương mại du lịch. Cộng đồng địa phương đã tỏ ra hoài nghi với những “hứa hẹn” từ các nhân viên đến từ NGO, kể cả sau khi được hỗ trợ kĩ thuật và tài chính một phần từ COHED (the Centre for Community Health and Development – một tổ chức về cộng đồng).

   Năm 2012, ông Dương Minh Bình được COHED thuê làm tư vấn và nhanh chóng nắm vai trò dẫn dắt trong dự án CBT Mai Hịch. Ông nhận thấy những vấn đề cốt lõi của dự án nằm ở việc thiếu sự phối hợp giữa các đơn vị tư nhân, nhà nước, các NGO và người dân địa phương.

DuongMinhBinh CBT

Ông Dương Minh Bình tham gia khảo sát với cộng đồng địa phương (Nguồn ảnh: Duong Minh Binh) 

   CBT Travel đã khích lệ người dân địa phương trở thành nhà đầu tư chính trong dự án du lịch cộng đồng. Các homestay được dựa trên kết cấu nhà ở sẵn có, sử dụng vật liệu địa phương nhằm đảm bảo tính nguyên bản và giảm chi phí đầu tư xuống chỉ còn 1.000 - 4.000 USD (khoảng 23 - 92 triệu VNĐ). CBT Travel đã hỗ trợ phát triển thêm nhiều các dịch vụ du lịch bổ trợ Mai Hịch, mang lại nhiều cơ hội cho các thành viên của cộng đồng cùng tham gia vào phát triển du lịch. Một số dịch vụ có thể nhắc đến là: biểu diễn âm nhạc và văn hóa truyền thống, thưởng thức món ăn địa phương, dã ngoại (trekking), chèo bè, cho thuê xe máy, xe đạp, cung cấp sản vật địa phương, đồ thủ công và quà lưu niệm.

   Với các đối tác thuộc khu vực tư nhân, CBT thuyết phục các chuyên gia trong lĩnh vực dịch vụ du lịch (Ví dụ: các đầu bếp khách sạn 5 sao), trong việc mở các khóa đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật cho cộng đồng, huy động sự giúp đỡ của tổ các chức NGO – COHED trong với khoản tài trợ gần 7.500 đôla Mỹ. Ngoài ra, CBT Travel cũng hỗ trợ công tác thiết lập ban quản lý du lịch, có trách nhiệm giám sát và đảm bảo thực hiện các quy định và nguyên tắc du lịch tại địa phương, nhằm đảm bảo việc thực hiện những trách nhiệm môi trường, xã hội, trong quá trình phát triển hiện tại và trong tương lai của CBT.

   Những đóng góp của CBT Travel đã mang lại những thành công bước đầu cho CBT Mai Hịch với việc thành lập 3 khu homestay, với nhiều dịch vụ du lịch. Số lượng du khách đến Mai Hịch tăng trưởng từ 474 khách năm 2013 lên gần 6000 khách năm 2015. Với mức chi tiêu trung bình 20 USD/người (khoảng 400.000 đồng), chỉ trong vòng 3 năm, du lịch đã đóng góp trực tiếp gần 200.000 đô-la Mỹ (4,5 tỷ đồng) cho kinh tế Mai Hịch.

CBTMaiHich

Bảng: Lượng khách đến và chi tiêu của khách du lịch tại CBT Mai Hịch từ 2013 - 2015   

   Tác động của CBT Travel trên quy mô toàn quốc

   Thành công của dự án CBT Mai Hịch đã được ghi nhận bởi Trung tâm Hỗ trợ sáng kiến Phục vụ cộng đồng (CSIP) – một tổ chức thúc đẩy sự phát triển của phong trào doanh nghiệp xã hội (DNXH), tăng cường nhận thức về DNXH và cung cấp dịch vụ hỗ trợ (Ví dụ: tư vấn pháp lý, chuyên môn về DNXH) nhằm phát triển quy mô của các DNXH.

   Trong trường hợp này, doanh thu của doanh nghiệp xã hội CBT Travel đến chủ yếu từ việc cung cấp các dịch vụ tư vấn cho các vùng CBT và chiến lược phát triển du lịch cho các NGO trong nước. Doanh nghiệp cũng đã và đang cung cấp dịch vụ tư vấn, huấn luyện và đào tạo miễn phí cho các cộng đồng.

   Để đạt được mục tiêu này, doanh nghiệp xã hội CBT Travel đã triển khai một cách có hệ thống việc phát triển CBT trên toàn quốc thông qua các hình thức:

   (1) cung cấp thông tin và hỗ trợ kỹ thuật;
   (2) thiết lập mối quan hệ với các tổ chức, doanh nghiệp khác.

   CBT Travel chủ động tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn và hội nghị nhằm giới thiệu mô hình CBT tới nhiều đối tượng khác nhau bao gồm chính quyền ở cấp quốc gia, cấp tỉnh, huyện, xã và thôn; các tổ chức NGO quốc tế tại Việt Nam, các tổ chức NGO nội địa; các công ty lữ hành và cộng đồng địa phương tại những vùng xa xôi, hẻo lánh. Những hoạt động trên đã góp phần thay đổi nhận thức của các bên về phát triển du lịch phục vụ mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, bằng việc chứng minh rằng những cộng đồng với nguồn lực hạn chế cũng có khả năng xây dựng những mô hình CBT.

   CBT Travel đã làm nổi bật một số những lựa chọn huy động tài chính phù hợp cho việc triển khai CBT, tùy thuộc vào điều kiện thực tế tại mỗi cộng đồng. Các lựa chọn được sử dụng tại các dự án của CBT Travel bao gồm: đầu tư cá nhân; cho vay lãi suất thấp, hỗ trợ vốn từ chính quyền; hỗ trợ bằng hiện vật và đầu tư toàn phần từ các NGO.

   CBT Travel đồng thời tổ chức các chuyến đi dành cho cho đại diện chính quyền địa phương và cộng đồng địa phương, các nhà đầu tư tiềm năng và lãnh đạo các NGO chủ chốt tham quan và trực tiếp trải nghiệm các dự án CBT đã được triển khai.

   CBT Travel cũng phát triển một mạng lưới “Nhượng quyền mô hình du lịch cộng đồng”, cam kết hỗ trợ từng mô hình CBT từ giai đoạn lập kế hoạch phát triển, đảm bảo các mô hình này đạt được sự tăng trưởng ổn định và tạo thu nhập bền vững trong dài hạn. Cụ thể, CBT Travel đã đi theo bốn bước cơ bản như sau:

   - Soạn thảo “Sổ tay hướng dẫn CBT”: Tài liệu đưa ra một khung thống nhất để hỗ trợ quá trình triển khai và mở rộng các mô hình CBT;
   - Cung cấp các khóa tập huấn du lịch cho cộng đồng dân cư địa phương: kỹ năng du lịch, liên lạc và sử dụng mạng xã hội;
   - Kết nối các đơn vị nhượng quyền của CBT Travel với các công ty du lịch: trợ giúp tiếp cận thị trường du lịch.
   - Phối hợp với Ban quản lý du lịch cộng đồng trong công tác giám sát và nâng cao trách nhiệm của đơn vị kinh doanh nhượng quyền tại địa phương cũng như khách du lịch.

   Ngoài ra, CBT Travel cũng hỗ trợ kết nối và đồng bộ hóa sản phẩm và dịch vụ của các mô hình trong mạng lưới trên cả nước. Những chiến lược cụ thể trên đã khiến doanh nghiệp xã hội CBT Travel nhanh chóng nhân rộng được mô hình CBT trong cộng đồng, với hơn 15 dự án CBT tại các vùng Tây Bắc, Đông Bắc, miền Trung và Nam bộ Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2017.

   Tất cả những dự án trên đều thực hiện ở vùng miền núi sâu xa và nông thôn, địa bàn của nhóm dân tộc thiểu số với tỉ lệ nghèo đói rất cao. CBT Travel vẫn duy trì giám sát các hoạt động của mỗi CBT, trợ giúp việc đảm bảo các quy chuẩn chất lượng và phân phối lơi nhuận du lịch một cách hợp lý giữa các thành viên trong cộng đồng dân cư địa phương, tạo nên những kết quả ấn tượng trong việc phát triển mô hình CBT nhằm xóa đói giảm nghèo.

   3. Kết luận

   Sự thành công của các dự án CBT về xóa đói giảm nghèo đòi hỏi sự điều phối giữa hoạt động của các bên liên quan bao gồm: cộng đồng địa phương, NGO, doanh nghiệp du lịch và chính quyền. Hiệu quả của các dự án CBT phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân.

   Thứ nhất, cần có sự đóng góp về mặt chuyên môn trong lĩnh vực du lịch, các dự án CBT cần xem xét việc hợp tác, đồng hành với các chuyên gia có kinh nghiệm ngay từ giai đoạn ban đầu của dự án.

   Thứ hai, phổ biến những kiến thức có liên quan đến việc phát triển CBT, những phát kiến trong việc xây dựng mô hình sáng tạo xã hội cần phải được diễn giải thành các văn bản hướng dẫn có thể được dễ dàng tiếp cận bởi cộng đồng quốc tế.

   Thứ ba - cuối cùng, trong việc nhân rộng các tác động của các mô hình sáng tạo xã hội trong du lịch, các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp xã hội như CSIP, nơi cung cấp những hỗ trợ kỹ thuật cho các doanh nghiệp xã hội, đóng vai trò rất quan trọng.

   TÀI LIỆU THAM KHẢO:

   Managing Growth and Sustainable Tourism Governance in Asia and the Pacifc (Quản lý Tăng trưởng và Quản trị Du lịch có trách nhiệm tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương), Bản quyền © 2017, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và Đại học Griffth

   World Bank (2005), Pro-poor growth in the 1990s: lessons and insights from 14 countries, World Bank, Washington DC

   World Bank (2012), Well begun, not yet done: Viet Nam’s remarkable progress on poverty reduction and the emerging challenges (online), chi tiết: www.worldbank.org (15-04-2017)

   Nguyen, N. (2013), Mai Chau home-stay proves a hit (online), có thể xem tại: http://vietnamnews.vn (15-04-2017)

   Murphy, P.E. (1985), Tourism: A community approach, Methuen, London

  Mitchell, J. và Muckosy, P. (2008), A misguided quest: Community-based tourism in Latin America, Overseas Development Institute (ODI), London

   Goodwin, H. (2006), ‘Community-based tourism: Failing to deliver?’, ID 21 Insights, No. 62

   Một số thông tin đươc tổng hợp theo việc phỏng vấn ông Dương Minh Bình - người sáng lập, Giám đốc CBT Travel   

Đức Anh, Jinnee

 

   

 

  dlhanoi2017 Hà Nội, trái tim của cả nước, nơi tập trung các cơ quan đầu não về kinh tế, chính trị, văn hóa, nơi diễn ra các hoạt động chính trị chủ yếu của đất nước. Thủ đô hơn 1000 năm tuổi với lịch sử lâu đời và truyền thống văn hóa đa dạng và giàu bản sắc, luôn là sự lựa chọn hàng đầu của du khách trong và ngoài nước. Hà Nội, trung tâm văn hóa – chính trị - kinh tế - xã hội, là thủ đô của cả nước. Đây cũng là một trong những địa  bàn tập trung nhiều giá trị tài nguyen du lịch tự nhiên và nhân văn của vùng Bắc Bộ, trong đó, các giá trị đặc trưng về di sản văn hóa, lịch sử, nghệ thuật, truyền thống, lễ hội, ẩm thực... đặc biệt hấp dẫn du khách.

   Trong những năm qua, với vị thế là thủ đô - “thành phố vì Hòa Bình” thì lượng khách du lịch đến với Hà Nội không ngừng tăng: năm 2011 lượng khách đến Hà Nội là 13.547.000 lượt khách đến năm 2016 là 21.830.906 lượt khách. Tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2011-2016 đạt 10%/năm (trong đó khách quốc tế tăng 14%/năm, khách nội địa tăng 9,2%/năm). So sánh tốc độ tăng trưởng cũng trong giai đoạn này với một địa phương có du lịch phát triển như Đà Nẵng là 18,28%, Khánh Hòa là 15,7%, Tp. Hồ Chí Minh 15,3%, thì tốc độ tăng trưởng khách của du lịch Hà Nội là khá khiêm tốn. Tuy vậy, so với các địa phương khác, số lượng khách đến Hà Nội vẫn đảm bảo tăng trưởng ở mức khá cao. 

 

 

Biểu đồ 1: Số lượng khách du lịch đến Hà Nội giai đoạn 2011-2016

cocau2017-0

 

 

 

Nguồn: Sở Du lịch Hà Nội

1. Về khách du lịch quốc tế

Khách quốc tế đến Hà Nội từ nhiều vùng, lãnh thổ trên thế giới, trong đó khách từ các thị trường có khả năng chi trả cao như Tây Âu, Đông Bắc Á, Úc, Bắc Mỹ...; 40% số khách quốc tế du lịch Việt Nam có đến Hà Nội. Khách quốc tế đến Hà Nội còn thấp so với Thủ đô một số nước trong khu vực, chỉ bằng khoảng 1/6 lượng khách đến Bangkok, 1/3 lượng khách đến Singapore và Kuala Lumpur.1

 

Top 10 thị trường khách quốc tế trọng điểm đến Hà Nội giai đoạn 2011- 2016 không có nhiều biến động, bao gồm các thị trường: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Pháp, Mỹ, Thái Lan, Đức, Malaysia, Singapore, Thái Lan.

1: Năm 2015: Băng Cốc (Thái Lan): 19,3 triệu lượt khách, Kuala Lumpur (Malaysia) 23,1 triệu lượt khách. Singapore: 15,231 triệu lượt khách;

Biểu đồ 2: Cơ cấu thị trường khách du lịch quốc tế đến Hà Nội năm 2016

cocau2017-1

 

                                                                          Nguồn: Sở Du lịch Hà Nội

 

          Khách du lịch quốc tế đến Thủ đô với nhiều mục đích khác nhau, trong đó với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng chiếm khoảng 80%; còn lại là các mục đích khác như: khách công vụ, thương mại, hội nghị hội thảo, thực hiện các nhiệm vụ của Chính phủ, thăm thân,... chiếm 20%. Khách đến Hà Nội có lưu trú ngày càng tăng, với khoảng 2,9 triệu người năm 2016, tăng 23% so với năm 2015. Lượng khách lưu trú tại Hà Nội tăng mạnh trong thời gian qua cho thấy năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Thủ đô đã tăng lên.

 

          Bảng 1: Số liệu khách du lịch quốc tế đến Hà Nội và cả nước

 

Năm

Việt Nam

Hà Nội

Tỷ lệ % Hà Nội so Việt Nam

2010

5.049.855

1.700.000

33.66%

2011

6.014.032

1.887.000

31.4%

2012

6.847.678

2.100.000

30.67%

2013

7.572.352

2.580.900

34.08%

2014

7.874.312

3.010.000

38.1%

2015

7.943.651

3.263.743

41%

2016

10.012.735

4.020.306

40,1%

 

                                               Nguồn: Tổng cục thống kê, Sở Du lịch Hà Nội

 

Theo Quy hoạch phát triển du lịch thành phố Hà Nội, trong thời gian tới, du lịch Hà Nội vẫn tập trung đẩy mạnh, thu hút khách du lịch quốc tế ở các thị trường truyền thống: Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Trung Quốc, Đài Loan, Đức, Pháp, khu vực Bắc Mỹ, ASEAN…; Mở rộng thu hút khách du lịch đến từ các thị trường mới: Trung Đông và Bắc Âu… Đồng thời, phát triển thị trường nội địa thông qua việc tăng cường liên kết giữa Hà Nội với các vùng, miền, địa phương trong cả nước.

 

2. Về khách du lịch nội địa

 

Hà Nội là trung tâm phân phối khách chủ yếu của vùng phía Bắc, đặc biệt đối với các tỉnh khu vực đồng bằng sông Hồng. Khách du lịch nội địa đến Hà Nội để du lịch và trung chuyển đi du lịch ở các tỉnh lân cận. Thị trường khách du lịch nội địa đến Hà Nội chiếm tỷ trọng lớn hàng đầu cả nước, với lượng khách trung bình hàng năm chiếm trên 30% tổng lượng khách du lịch nội địa của Việt Nam. Năm 2011, Hà Nội đón 11.660.000 lượt, đến năm 2016 đón 17.810.000 lượt khách (tăng 153% so với năm 2011).

 

Khách du lịch nội địa đến Hà Nội với nhiều mục đích khác nhau và từ khắp các tỉnh, thành phố của cả nước với mục đích du lịch thuần tuý, du lịch kết hợp với các mục đích khác như đi công tác, thăm thân, chữa bệnh và mua sắm.

 

Biểu đồ 3: Khách du lịch nội địa đến Hà Nội giai đoạn 2011-2016

cocau2017-2

                                                                      Nguồn: Sở Du lịch Hà Nội

     Có thể thấy, du lịch Hà Nội trong giai đoạn 2011^2016 đã thu hút lượng lớn khách du lịch trong nước và quốc tế, một số lý do phải kể đến: Hà Nội có vị trí và địa thế đẹp, thuận lợi, là Thủ đô, trung tâm chính trị, kinh tế, vǎn hoá, khoa học công nghệ hàng đầu cả nước; Là đầu mối giao thông quan trọng của cả nước, có sân bay quốc tế Nội Bài; Sự hấp dẫn về tài nguyên du lịch với các giá trị nổi bật về tài nguyên du lịch nhân văn đặc biệt là các di tích lịch sử - văn hóa, các làng nghề truyền thống, các lễ hội... Được nhiều tạp chí du lịch có uy tín trên thế giới đánh giá cao là “điểm hấp dẫn thứ tư trên thế giới” hay “một trong những thành phố nên đến trong cuộc đời” như Trip Advisor,...

   Tuy vậy, để phát triển xứng đáng với tiềm năng du lịch và vị thế là Thủ đô của cả nước, du lịch Hà Nội cần phải tiếp tục phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ khách du lịch, tăng cường các chương trình xúc tiến quảng bá du lịch và đặc biệt nâng cao chất lượng và nâng tầm đẳng cấp hệ thống sản phẩm du lịch hiện có./. 

 Thanh Hiền

   Mục tiêu phát triển du lịch bền vững đã được các quốc gia trên thế giới hướng tới từ thập niên 90 của thế kỷ XX. Du lịch bền vững được hiểu là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển hoạt động du lịch trong tương lai. Phát triển du lịch bền vững giảm thiểu các tác động xấu của du lịch đồng thời góp phần vào công tác bảo tồn các giá trị tốt cho cộng đồng địa phương, cả về kinh tế và xã hội. Đại hội đồng Liên hợp quốc (UNGA/GA) tuyên bố năm 2017 là “Năm quốc tế về Du lịch bền vững vì sự phát triển” nhằm xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn du lịch nói riêng và cho loài người, hành tinh, hòa bình và thịnh vượng nói chung.

   Việt Nam có nhiều tiềm năng du lịch, đã và đang phát triển nhiều loại hình du lịch góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Giai đoạn gần đây, để đảm bảo phát triển du lịch một cách bền vững, tại một số địa phương, điểm đến, đã có nhiều hình thức, hành động thiết thực điển hình như Đà Nẵng – Thành phố nhận được nhiều danh hiệu và có mức tăng trưởng về du lịch tương đối bền vững, đáng ghi nhận (1). Để đạt những kết quả nổi trội đó, cơ quan quản lý nhà nước; doanh nghiệp du lịch; cộng đồng dân cư Đà Nẵng đã cùng “chung sức, chung lòng” hướng tới mục tiêu chung: coi khách du lịch là tâm điểm, làm cho khách thỏa mãn và có ý định quay lại trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn, tu tạo các nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển trong tương lai, cụ thể:

   DulichmoinctdI. Nghiên cứu một số điển hình

   Năm 2017, ngành Du lịch Việt Nam ghi nhận 2 sự kiện quan trọng là sự ra đời của Nghị quyết số 08-NQ/TW do Bộ Chính trị ban hành ngày 16/1/2017 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và Luật Du lịch sửa đổi (sau đây gọi là Luật Du lịch) được Quốc hội chính thức thông qua ngày 19/6/2017 và có hiệu lực vào 1/1/2018. Trong mối tương quan giữa 3 nhiệm vụ then chốt ngành Du lịch đã thực hiện trong nhiều năm qua dưới sự hỗ trợ của dự án EU-ESRT, đó là: Xây dựng thể chế, chính sách; Nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển sản phẩm; và Đào tạo phát triển nguồn nhân lực, nhiều sản phẩm du lịch mới đã thu hút sự quan tâm của toàn ngành và của xã hội, đã có tác động tích cực góp phần làm đa dạng sản phẩm du lịch của Việt Nam, và đã khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và văn hóa bản địa và thế mạnh của địa phương. Trong bài nghiên cứu - trao đổi này, tôi lựa chọn một số sản phẩm du lịch mới hiện nay để nghiên cứu như những điển hình tốt về du lịch trong nước để đưa ra một số nhận định đối với sự phát triển sản phẩm du lịch mới nói chung trong tương lai.

   5.vanhoadantoc 1 Trong những năm qua, Du lịch đã dần khẳng định vị trí trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Để làm được điều này, việc kết hợp giữa văn hóa và du lịch đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra tính hấp dẫn riêng có của du lịch. Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch đã nhận được nhiều sự quan tâm đánh giá của các chuyên gia và nhìn chung đều thống nhất ở điểm chú trọng yếu tố văn hóa truyền thống dân tộc là cần thiết, vừa bảo tồn và khai thác hiệu quả các giá trị nhằm hướng tới việc phát triển du lịch bền vững.
   Trong quá trình dựng nước và giữa nước lâu dài, nhân dân Việt Nam đã tự tạo ra một nền văn hóa riêng biệt và dần nâng lên trình độ văn minh. Nền văn hóa và văn minh đó đã khẳng định sự tồn tại độc lập của người Việt Nam trên lãnh thổ quốc gia của mình, sát cánh cùng các dân tộc ít người. Nền văn hóa đó rất đa dạng và nhiều màu sắc, phản ánh cuộc sống lao động sáng tạo và tự chủ của cư dân sống trên đất nước Việt Nam.

“Du lịch trở thành một trong ba ngành công nghiệp tạo ra việc làm lớn nhất trên thế giới. Du lịch thúc đẩy sự đầu tư lớn về cơ sở hạ tầng và phần lớn trong số đó hỗ trợ một cách tích cực cho việc cải thiện điều kiện sống của người dân địa phương. Du lịch cũng mang lại nguồn thu đáng kể từ thuế thu nhập. Những nghề nghiệp mới nhất trong du lịch cũng được tạo ra ở các nước đang phát triển giúp cho họ cân bằng cơ hội kinh tế và tránh khỏi việc di cư tự do từ các vùng quê lên các thành phố lớn” (UNWTO, 2007).
Tổng quan về du lịch cộng đồng 

minh hoaCác quan điểm tích cực về vai trò của du lịch đã hỗ trợ và khuyến khích các chính phủ và các tổ chức phát triển ở nhiều quốc gia sử dụng du lịch như một cứu cánh cho việc cân bằng quá trình phát triển đất nước. Để đảm bảo việc phát triển du lịch đúng với tầm vóc của mình, ngoài những nguồn lực cơ bản đầu tư do chính cộng đồng, chính phủ và các tổ chức phát triển tạo ra, bên cạnh đó người dân địa phương cũng cần có cam kết tham gia, đầu tư về thời gian, tiền bạc, nỗ lực và hy vọng vào du lịch. Vấn đề của mối quan hệ này là xây dựng được lòng tin, khả năng đem lại nguồn lợi lớn về xã hội, kinh tế cho cộng đồng của họ từ việc tham gia làm du lịch. Để giải quyết được các vấn đề về tác động tiêu cực của du lịch, một số loại hình du lịch mới đã được giới thiệu. Đặc biệt là du lịch cộng đồng.

   Bản Sín Chải cách thị trấn Sa Pa khoảng 4 km, nằm trên sườn núi thuộc dãy Hoàng Liên, phần lớn địa phận của Bản nằm trong hoặc sát kề với Vườn quốc gia Hoàng Liên với những dãy rừng nguyên thủy bạt ngàn với hệ sinh thái đa dạng và quý hiếm. Nơi đây chủ yếu là người dân tộc H' Mông có khoảng 120 hộ gia đình di cư từ Trung quốc sang từ thế kỷ thứ 17. Cuộc sống dựa vào sự du canh, du cư, canh tác nương rẫy và khai thác các sản phẩm từ rừng. Dân tộc H’Mông sống tại Bản Sin chải có một truyền thống văn hóa dân tộc, tập quán, tín ngưỡng tồn tại hàng ngàn đời nay, có một kho tàng về các điệu múa, các bài hát tiếng dân tộc, có hàng thủ công mỹ nghệ, vải, quần áo mang đặc trưng riêng của dân tộc H'Mông...

Hmong

   Do điều kiện địa lý, thủy văn và phong tục tập quán nên người dân ở đây chỉ canh tác một vụ lúa, nên thóc gạo không đủ trang trải quanh năm nhiều nhà đã phải chịu thiếu gạo khoảng 2-3 tháng/ năm, điều kiện sinh hoạt hết sức khó khăn. Người phụ nữ H’Mông cần cù chịu khó, chăm chỉ làm việc làm việc quanh năm, không khi nào được nghỉ tay, họ phải dậy sớm làm quần quật hết các nghề khác nhau như: chăn nuôi, thêu diệt hàng thổ cẩm trong đó hàng thổ cẩm được đánh giá rất cao về tính thẩm mỹ nhưng cuộc sống không thể thoát khỏi cái nghèo, cái đói. Cộng đồng người H'Mong luôn luôn du canh, du cư, họ luôn thay đổi địa điểm sinh sống và canh tác nên đã ảnh hưởng rất lớn đối với tài nguyên thiên nhiên.

  Cẩm nang DLNT Trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam-Nhật Bản, trong năm 2013 Tổng cục Du lịch đã giao Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch phối hợp cùng Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) biên tập và xuất bản cuốn “Cẩm nang thực tiễn phát triển du lịch nông thôn Việt Nam” trên cơ sở đúc rút kết quả thực hiện các dự án hỗ trợ phát triển du lịch của Nhật Bản tại các vùng quê Việt Nam: Đường Lâm (Hà Nội), Phước Tích và Thanh Toàn (Thừa Thiên Huế), Hồng Phong (Hải Dương), Đông Hòa Hiệp (Tiền Giang), Tabhing (Quảng Nam) và 3 làng nghề Phù Lãng, Đình Tổ và Hòa Long (Bắc Ninh).

   Cẩm nang do TS. Hà Văn Siêu, Viện trưởng Viện nghiên cứu Phát triển Du lịch và ông Ando Katsuhiro, chuyên gia JICA đồng chủ biên với sự tham gia của các chuyên gia từ Tổng cục Du lịch, Hiệp hội Du lịch Việt Nam, các Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học KHXHNV, Đại học Quốc gia, Viện Nghiên cứu Phát triển ngành nghề Nông thôn Việt Nam, Tổ chức Cứu trợ và Phát triển Quốc tế Nhật bản (FIDR), Đại học Nữ Chiêu Hoàng Nhật Bản, Đại học Chiba, Đại học Tokai, Đại học Karashiki Sakuyo. 

   Cẩm nang là công cụ hỗ trợ hữu hiệu giúp các bên liên quan triển khai phát triển du lịch nông thôn một cách thiết thực, hiệu quả và bền vững. Vì vậy các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ sử dụng, tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo các bài học kinh nghiệm thực tiễn tại Cẩm nang, phát huy những giá trị tài nguyên du lịch các vùng quê để phát triển trở thành những điểm du lịch hấp dẫn; có kế hoạch phổ biến Cẩm nang đến các đối tượng liên quan: cơ quan quản lý (chính quyền địa phương, cán bộ quản lý cấp sở, phòng, trung tâm, ban quản lý...); tổ chức xã hội (hội nghề nghiệp, giáo hội, hội phụ nữ, thanh niên, cựu chiến binh...); doanh nghiệp và cộng đồng dân cư.

   Trong thời gian tới, ngành Du lịch tiếp tục tăng cường các hoạt động hỗ trợ phát triển du lịch nông thôn gắn với Chương trình hành động quốc gia về du lịch và các chương trình, kế hoạch phát triển khác của Ngành. Trong đó, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và tư vấn kỹ thuật để triển khai cụ thể tại các địa phương. Hy vọng rằng với sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo gắn với đặc thù từng địa phương, bài học từ Cẩm nang này sẽ đem lại những kết quả thiết thực đối với phát triển du lịch tại các vùng nông thôn Việt Nam.    

   Ngày 13/5/2014, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Nguyễn Văn Tuấn đã ký ban hành công văn số 449/TCDL-VNCPTDL gửi các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc phổ biến áp dụng Cẩm nang thực tiễn phát triển du lịch nông thôn Việt Nam. 

    Toàn văn công văn: CV449.pdf

 Toàn văn Cẩm nang quý độc giả có thể xem tại đây

Không thể phủ nhận những giá trị mà sản phẩm lưu niệm đã mang lại bởi nó cũng thể hiện một phần đặc trưng văn hóa Việt Nam. Vậy tại sao chúng ta không phát triển để góp phần quảng bá văn hóa, du lịch Việt Nam.

Xu hướng hiện nay, khách du lịch thường chọn những điểm đến không bị ô nhiễm môi trường, có sự gắn kết với sinh thái tự nhiên. Do đó, du lịch bền vững đã được du khách quan tâm và tạo nên trào lưu du lịch mới.

Quảng Nam là địa phương có nhiều lợi thế để phát triển các loại hình du lịch nằm trong nhóm phạm trù du lịch bền vững như: du lịch sinh thái, trách nhiệm, làng quê...

Bên cạnh vùng du lịch nghỉ dưỡng cao cấp và bất động sản ven biển, Quảng Nam cũng hướng sự quan tâm đến các loại hình du lịch làng quê, sinh thái, homestay, thủ công mỹ nghệ mang những bản sắc riêng biệt và độc đáo.

Trong thời gian qua, phát triển theo hướng du lịch cộng đồng và du lịch sinh thái đang đem lại cho Quảng Nam những hiệu quả rõ rệt trong cải thiện đời sống tại các làng, bản miền núi. Dự án “Du lịch dựa vào cộng đồng Cơ Tu” do Tổ chức Cứu trợ và phát triển quốc tế (FIDR) phối hợp với UBND huyện Nam Giang tổ chức tại xã Ta Bhing không giống như các dự án du lịch cộng đồng đã được triển khai trước đây, dự án tập trung vào mục tiêu chính là phát huy tính chủ động của cộng đồng với việc kết nối nhiều thành phần tham gia. Dù mới triển khai thử nghiệm hơn một năm (từ 5/2012 đến 6/2013) nhưng đã có 20 đoàn với số lượng 260 khách chủ yếu là khách châu Âu và Nhật Bản đến tham quan; tổng thu nhập của địa phương từ hoạt động du lịch này đạt hơn 93 triệu đồng.

Việc thành lập tổ hợp tác cùng tương trợ đã đem lại hiệu quả tích cực cho mô hình du lịch homestay Mỹ Sơn (thôn Mỹ Sơn, xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam). Các hộ làm du lịch trong làng tham gia tổ hợp tác dựa trên tinh thần tự nguyện. Trước đây, khách du lịch đến Mỹ Sơn chỉ trong thời gian ngắn rồi về Hội An hoặc Đà Nẵng, không có gì trải nghiệm ngoài khu đền tháp Mỹ Sơn. Khi mô hình tổ hợp tác ra đời đã tạo điều kiện để du khách lưu trú tại làng du lịch cộng đồng, cùng dân trong làng nấu ăn, thưởng thức những món ăn truyền thống Quảng Nam, giao lưu với người dân địa phương để tìm hiểu giá trị văn hóa bản địa. Đồng thời, qua đó giúp người dân địa phương có thêm thu nhập, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

LangDLCDBhoHoongkhaitruong1

Làng du lịch cộng đồng Bhơ Hôồng ngày khai trương

Nằm trong khuôn khổ của Festival Di sản Quảng Nam lần thứ 5, ngày 23/6/2013, Sở VHTTDL Quảng Nam đưa làng Bhơ Hôồng (xã Sông Kôn) và làng Đhơ Rồng (xã Ta Lu), huyện Đông Giang vào khai thác du lịch theo mô hình homestay. Cộng đồng dân tộc nơi đây với nụ cười thân thiện, mến khách cùng các sản phẩm dệt thổ cẩm đặc trưng… đã trở thành yếu tố thuận lợi để phát triển loại hình du lịch sinh thái, du lịch văn hóa.

Kế tiếp những thành công trong việc phát triển du lịch ở các làng bản, cộng đồng dân tộc, mới đây, UBND tỉnh Quảng Nam vừa phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch Làng du lịch sinh thái Đại Bình tại xã Quế Trung, huyện Nông Sơn, cách thành phố Hội An 20 km. Làng Đại Bình sẽ là khu du lịch sinh thái kết hợp tham quan, tìm hiểu văn hóa truyền thống làng quê với quy mô 130 ha. Dự án này nhằm phát huy thế mạnh để khai thác, phát triển loại hình du lịch sinh thái kết hợp với tìm hiểu bản sắc làng quê Việt, góp phần giữ gìn văn hóa truyền thống làng quê và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân địa phương. Đồng thời, dự án gắn với quá trình bảo vệ tài nguyên môi trường và phát triển du lịch bền vững,  gắn kết các khu vực du lịch văn hóa – lịch sử Hội An, Duy Xuyên... Tổng mức kinh phí cho lập quy hoạch là hơn 1,7 tỷ đồng.

Việc hình thành các làng du lịch tại miền núi của Quảng Nam là một chủ trương lớn của tỉnh nhằm giúp các địa phương phát huy tiềm năng du lịch, tạo việc làm và thu nhập cho cư dân, phát triển kinh tế.

Hương Lê

Nguồn: TITC