SCREEN

Cpanel

19Tháng Hai2019

Kinh nghiệm quốc tế

Kinh nghiệm quốc tế (22)

nctd-2018-mai-tq   - Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch:Cục Du lịch quốc gia Trung Quốc   (CNTA) đóng vai trò là Cơ quan quản lý nhà nước về Du lịch, chịu trách nhiệm quản lý phát triển và xúc tiến ngành công nghiệp du lịch Trung Quốc.

- Cơ cấu tổ chức của CNTA:

+ Cục trưởng: Lý Kim Tảo và 04 Phó Cục trưởng

+ Các Vụ tham mưu thuộc Cục Du lịch quốc gia Trung Quốc gồm có: Văn phòng, Vụ Điều phối tổng hợp; Vụ Kế hoạch Tài chính; Vụ Marketing và Truyền thông; Vụ Chính sách và Pháp luật; Vụ nhân lực; Vụ Quản lý du lịch

+ Văn phòng đại diện du lịch ở nước ngoài do CNTA quản lý: 16 văn phòng đại diện tại 13 quốc gia và vùng lãnh thổ, gồm: Nhật bản (2); Singapore, Ấn Độ, Hàn Quốc, Hoa Kỳ (2); Canada, Pháp, Đức (2), Tây Ban Nha , Úc, Nga và Hồng Công).CNTA thực hiện xúc tiến qua trang web: http://www.chinatourism.ch/html/about/02/

- Chức năng và nhiệm vụ của CNTA

1.     Nghiên cứu hướng dẫn, chính sách và kế hoạch phát triển du lịch

2.     Phối hợp với các cơ quan chức năng khác để thực hiện chính sách phát triển du lịch

3.     Nghiên cứu chiến lược khai thác thị trường du lịch quốc tế

4.     Thúc đẩy sự phát triển của thị trường du lịch nội địa

5.     Tổ chức điều tra, đánh giá các nguồn lực du lịch

6.     Thực hiện các chính sách du lịch outbound đối với Hồng Công, Macao và Đài Loan

7. Chỉ đạo hệ thống giáo dục và đào tạo trong du lịch

8. Chỉ đạo các cơ quan du lịch địa phương xây dựng chính sách phát triển du lịch

9. Thực hiện các chức năng và nhiệm vụ khác theo yêu cầu của Đảng và Hội đồng quốc gia.

- Lượng khách quốc tế đến Trung Quốc (inbound) và doanh thu du lịch quốc tế của Trung Quốc:

   + Khách du lịch quốc tế của Trung Quốc được thống kê bao gồm: khách đi lịch trong ngày và khách lưu trú qua đêm, khách mang quốc tịch nước ngoài và khách mang hộ chiếu Hồng Công, Ma Cao, Đài Loan đi du lịch Trung Quốc đại lục. Năm 2016, khách nước ngoài đến TQ là 31,48 triệu lượt, khách mang hộ chiếu Hồng Công: 81,06 triệu lượt, Ma Cao: 23,5 triệu lượt, Đài Loan: 5,73 triệu lượt.

   + 15 thị trường nước ngoài hàng đầu gửi khách quốc tế đến Trung Quốc (năm 2015): Hàn Quốc (4,44 triệu lượt); Nhật Bản (2,49 triệu lượt); Việt Nam (2,16 triệu lượt); Hoa Kỳ (2,08 triệu lượt); Nga (1,58 triệu lượt); Malaysia (1,07 triệu lượt); Mông Cổ (1,01 triệu lượt); Philippines (1,0 triệu lượt); Singapore (0,9 triệu lượt); Ấn Độ (0,73 triệu lượt); Canađa (0,68 triệu lượt), Thái Lan (0,64 triệu lượt), Úc (0,63 triệu lượt); (Đức (0,66 triệu lượt). Việt Nam xếp thứ 3, số liệu khách Việt Nam bao gồm cả khách du lịch biên giới. (Nguồn: CNTA)

Năm

Số khách quốc tế (triệu lượt)

Trong đó, khách lưu trú qua đêm (triệu lượt)

Trong đó, khách quốc tịch nước ngoài

Tốc độ tăng trưởng khách quốc tế (%)

Doanh thu du lịch quốc tế (tỷ USD)

2016

138,0

59,27

31,48

3,5

120

2017 (mục tiêu)

143

69,5

 

3,5

126

          Nguồn: Cục Du lịch quốc gia Trung Quốc

   - Khách Trung Quốc đi du lịch nước ngoài (Outbound):Theo CNTA, năm 2016 là 122 triệu lượt, tăng 4,3% so với năm 2015. 10 điểm du lịch nước ngoài chính của khách TQ: Thái Lan (8,04 triệu), Hàn Quốc, Nhật, Indonesia, Singapore, Mỹ, Malaixia, Maldives, Việt Nam và Philippines. 10 điểm du lịch biển hàng đầu của khách TQ: Phuket, Bali, Jeju, Okinawa, Boracay, Maldives, Sabah, Nha Trang, Saipan, Srilanka.. Việt Nam trong danh sách 10 điểm đến outbound và 10 điểm du lịch biển của khách TQ.

   - Chi tiêu du lịch nước ngoài (2016): Theo số liệu CNTA: 109,8 tỷ USD, tăng 5,1%. Theo số liệu UNWTO: 261 tỷ USD, tăng 11,7% so với năm 2015, giữ vị trí thứ nhất về chi tiêu trong các thị trường outbound quốc tế.

   Khách du lịch Trung Quốc đến Việt Nam

   Trung Quốc là thị trường gửi khách số một thế giới về số lượng khách và khả năng chi tiêu. Theo báo cáo của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), năm 2016, đã có trên 135 triệu lượt khách Trung Quốc đi du lịch nước ngoài, tăng   6% so với 2015, chi tiêu 261 tỉ USD (chiếm 21% tổng chi tiêu của khách du lịch quốc tế toàn cầu). Năm điểm đến hàng đầu của khách du lịch Trung Quốc năm 2017 là: Thái Lan (9,5 triệu lượt), Nhật Bản (7,4 triệu), Hàn Quốc (4,17 triệu), Việt Nam (4 triệu), Indonesia (2,06 triệu). Khách Trung Quốc đi du lịch nước ngoài có đặc điểm là thường đi theo các đoàn lớn, qua các công ty lữ hành gửi khách với tour du lịch trọn gói giá cạnh tranh. Khách Trung Quốc chi tiêu nhiều cho hoạt động mua sắm, ăn uống, vui chơi giải trí tại điểm đến.

nctd-2018-mai-tq-1

Nguồn: GSO

Thị trường khách Trung Quốc là thị trường quan trọng hàng đầu đối với nhiều điểm đến trong khu vực và trên thế giới. Nhiều quốc gia rất coi trọng và áp dụng các chính sách nhằm thu hút khách Trung Quốc. Do đó, cạnh tranh điểm đến để thu hút thị trường khách này giữa các quốc gia ngày càng khốc liệt, đặc biệt tại khu vực Châu Á và Đông Nam Á.

Đối với Việt Nam, thị trường khách Trung Quốc luôn chiếm tỉ lệ 28-30% trong tổng lượng khách quốc tế đến. Năm 2017, Việt Nam đón hơn 4 triệu lượt khách Trung Quốc trong tổng số gần 13 triệu lượt khách quốc tế, tăng 48,6% so với năm 2016. Sáu tháng đầu năm 2018, khách Trung Quốc đến Việt Nam đạt 2,568 triệu lượt, tăng 36,1% so với năm 2017. Các địa bàn đón khách Trung Quốc chủ yếu là Khánh Hòa, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Phú Quốc, Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh…Tại Khánh Hòa, lượng khách Trung Quốc chiếm tới 60% tổng lượng khách quốc tế đến, trong khi đó con số này lần lượt là 30% và 20% tại Đà Nẵng và Quảng Ninh.

 nctd-2018-mai-tq-2

Nguồn: GSO, 2017

Dự báo trong thời gian tới, lượng khách Trung Quốc đến Việt Nam sẽ tiếp tục tăng nhờ chi phí rẻ, thời gian di chuyển ngắn, số lượng, tần suất chuyến bay giữa hai nước không ngừng tăng lên. Hiện có trên 10 hãng hàng không Việt Nam và Trung Quốc khai thác 30 đường bay từ 20 thành phố Trung Quốc tới Việt Nam với tổng tần suất đạt trên 500 chuyến/tuần. Tuy khách Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ cao nhưng so với nhiều nước trong khu vực, con số này còn khiêm tốn.

Trong tổng lượt khách Trung Quốc đến Việt Nam, khách đi bằng đường hàng không chiếm tỷ lệ khoảng 70%, trong đó, khách đi theo các chuyến bay thuê bao (charter) ngày càng tăng. Theo điều tra năm 2017 của Tổng cục Du lịch, khách Trung Quốc chi tiêu trung bình khoảng 897,4 USD cho một chuyến đi Việt Nam và có xu hướng tăng lên, trong đó khoảng 32% chi cho lưu trú.

Một số vấn đề đặt ra với việc quản lý tour du lịch giá rẻ

Trong bối cảnh cạnh tranh du lịch ngày càng gay gắt trong khu vực và trên thế giới, nhiều hãng lữ hành đã áp dụng biện pháp thu hút khách du lịch bằng tour du lịch giá rẻ. Việc tổ chức, quảng bá, bán các tour du lịch giá rẻ thường chỉ áp dụng được cho một số phân khúc thị trường, nhóm khách có thói quen đi theo đoàn và chi tiêu nhiều cho mua sắm hàng hóa, dịch vụ ngoài tour.

Về bản chất, tour du lịch giá rẻ là hình thức cạnh tranh bằng giá theo cơ chế thị trường. Tour du lịch giá rẻ là cách thức bán hàng với giá tour cơ bản thấp, bao gồm dịch vụ tối thiểu tại điểm đến, tuy nhiên, khách du lịch sẽ được khuyến khích sử dụng nhiều dịch vụ khác như mua sắm, tham quan, vui chơi, giải trí, ăn uống... Việc liên kết, tái phân bổ lợi nhuận giữa các công ty lữ hành, hãng hàng không và các cơ sở dịch vụ tại điểm đến sẽ đảm bảo lợi ích của tất cả các bên tham gia chuỗi giá trị phục vụ khách du lịch.

nctd-2018-mai-tq-3

 

Tour giá rẻ thường diễn ra với các hình thức sau : (1) Tổ chức gom khách thành các đoàn lớn dưới hình thức bán buôn để được hưởng chính sách ưu đãi về giá và các hỗ trợ khác từ các hãng vận chuyển, cung ứng dịch vụ, nhờ đó giá Tour được giảm đáng kể; (2) Thuê nguyên chuyến bay để vận chuyển khách du lịch. Do đặc điểm chỗ trên máy bay đã được mua trước trọn gói nếu không bán được cho khách thì cũng không lưu trữ được, nên sau khi tính toán điểm hòa vốn, các công ty lữ hành bán các Tour giá rẻ với mức giá vé máy bay thấp hoặc bằng 0; (3) Tour cho khách đi ngắn ngày, cắt giảm chương trình tour hoặc ép khách phải vào các điểm mua sắm khép kín chỉ phục vụ riêng khách đi theo tour giá rẻ với hàng hóa chất lượng thấp, giá cao gấp nhiều lần giá trị thực tế; (4) Tour đi theo đường bộ vào Việt Nam: Công ty lữ hành của nước bạn vẫn thu tiền của khách nhưng bán lại khách cho công ty du lịch hoặc HDV của Việt Nam với giá rẻ hoặc bằng 0. Vì vậy, các Công ty Du lịch Việt Nam hoặc HDV phải lấy chi phí mua sắm, sử dụng dịch vụ để bù đắp chi phí cho các dịch vụ cơ bản theo chương trình đã ký kết với khách.

Về mặt tích cực: do khách du lịch vẫn phải chi trả cho các dịch vụ lưu trú, ăn uống, thăm quan, vận chuyển và các dịch vụ khác tại điểm đến nên tour du lịch giá rẻ vẫn tạo ra doanh thu, việc làm, khuyến khích sản xuất, thúc đẩy tiêu thụ dịch vụ và hàng hóa. Đối với các hãng hàng không, tour du lịch giá rẻ là đòn bẩy tăng khả năng thu hút khách, duy trì sự ổn định các đường bay. Bên cạnh đó, tour du lịch giá rẻ đã làm giảm tính mùa vụ của du lịch, giúp tăng lượng khách vào mùa thấp điểm, giúp các nhà đầu tư du lịch có nguồn thu ổn định, thu hồi vốn; duy trì và đem lại doanh thu cho điểm đến.

Về mặt tiêu cực: tour giá rẻ về lâu dài sẽ làm xấu hình ảnh của điểm đến nếu không được quản lý một cách có hiệu quả. Việc tìm kiếm doanh thu từ mua sắm hàng hóa dịch vụ ngoài tour để bù đắp cho chi phí tổ chức tour đã tạo ra sức ép lớn cho các công ty lữ hành gửi khách, nhận khách và hoạt động quản lý điểm đến, một số nguồn thu từ các dịch vụ mua bán hàng hóa của khách du lịch chưa được quản lý chặt chẽ dẫn đến không kiểm soát được doanh số và thất thu thuế. Bên cạnh đó, việc thanh toán, giao dịch trực tuyến của khách du lịch (thông qua thiết bị chấp nhận thẻ (máy POS), thanh toán bằng QR code, các ứng dụng thanh toán trên điện thoại thông minh...) không thông qua hệ thống Ngân hàng, vi phạm quy định pháp luật về quản lý và thanh toán ngoại tệ tại Việt Nam.

Yêu cầu đặt ra là: việc quản lý tour du lịch giá rẻ cần phải đáp ứng yêu cầu cơ chế thị trường, đồng thời phải quản lý được chất lượng dịch vụ du lịch, bảo vệ quyền lợi của khách du lịch, hình ảnh điểm đến cũng như các nguồn thu thuế cho nhà nước.

Điểm mấu chốt để duy trì và tồn tại được tour giá rẻ là sự tồn tại của những cửa hàng hoạt động kinh doanh khép kín mang tính lừa đảo, thường do người nước ngoài núp bóng điều hành và có sự tiếp tay, đồng lõa của Công ty lữ hành và hướng dẫn viên Việt Nam.

Để xử lý, ngăn chặn mặt tiêu cực, phát huy mặt tích cực của tour giá rẻ thì cần tập trung vào các giải pháp: (1) Nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương; tăng cường kiểm soát đối với các cửa hàng hoạt động kinh doanh khép kín mang tính lừa đảo, thường do người nước ngoài núp bóng điều hành, kiểm soát chất lượng hàng hóa, nguồn gốc xuất xứ, không cho giao dịch chui, trốn thuế, chuyển tiền trái phép ra nước ngoài. (2) Kiên quyết xử phạt và rút giấy phép hoạt động đối với những doanh nghiệp lữ hành, hướng dẫn viên có vi phạm pháp luật về kinh doanh lữ hành, ảnh hưởng đến quyền lợi của du khách.

Trách nhiệm của các Bộ, ngành đối với việc quản lý tour giá rẻ: (1) Bộ VHTTDL tăng cường phối hợp với các địa phương thanh, kiểm tra hoạt động kinh doanh lữ hành và hướng dẫn viên; Hướng dẫn, tuyên truyền cho du khách về các điểm cung ứng dịch vụ trên địa bàn; Phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý du lịch các quốc gia gửi khách đến Việt Nam để tạo ra sự minh bạch trong việc cung cấp thông tin đầy đủ cho khách du lịch. (2) Việc ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật dẫn đến sự thất thoát về kinh tế trong hoạt động kinh doanh tour giá rẻ đòi hỏi sự quản lý liên ngành, chặt chẽ, đồng bộ đặc biệt là của chính quyền địa phương, các Bộ, ngành Công an, Công Thương, Ngân hàng, Thuế, Quản lý lao động… để tăng cường quản lý các cơ sở mua sắm trong việc chấp hành các quy định về niêm yết giá, xuất xứ hàng hóa, chất lượng hàng hóa, có biện pháp phát hiện, xử lý nghiêm cơ sở mua sắm vi phạm trong kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng; quản lý về ngoại hối, trong đó tập trung vào việc thanh toán, chuyển tiền của các doanh nghiệp lữ hành với đối tác nước ngoài, việc thanh toán trực tuyến bằng ngoại tệ tại các điểm dịch vụ, điểm mua sắm… phục vụ khách du lịch.

Công tác quản lý đối với thị trường khách Trung Quốc

Trước những vấn đề phát sinh trong hoạt động kinh doanh đón khách Trung Quốc, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã chỉ đạo các đơn vị chức năng và các cơ quan quản lý du lịch ở địa phương triển khai nhiều hoạt động quản lý, chấn chỉnh hoạt động kinh doanh tour giá rẻ.

Trong năm 2017-2018, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch triển khai Kế hoạch kiểm tra hoạt động kinh doanh lữ hành, hướng dẫn viên và quản lý điểm đến, đã tiến hành nhiều đợt thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp lữ hành, hướng dẫn viên có liên quan đến hoạt động kinh doanh tour giá rẻ trong đó tập trung chủ yếu tại các địa bàn như Quảng Ninh, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Kiên Giang. Các cơ quan chức năng đã xử phạt, rút giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế đối với những doanh nghiệp vi phạm; thường xuyên chỉ đạo và phối hợp chặt chẽ với các địa phương, nhất là các trọng điểm du lịch đón khách Trung Quốc để nắm bắt tình hình, có biện pháp xử lý kịp thời khi có tình huống liên qua đến khách Trung Quốc; hướng dẫn, yêu cầu các địa phương có phương án quản lý, ứng xử linh hoạt khi lượng khách Trung Quốc tập trung đông vào mùa cao điểm như xây dựng lực lượng hỗ trợ, đội ngũ tình nguyện viên hỗ trợ du khách, phân khu dành riêng cho khách Trung Quốc tại một số điểm tham quan; tăng cường phối hợp liên ngành, nhất là với lực lượng Công an, Biên phòng cửa khẩu để quản lý hoạt động kinh doanh lữ hành, quản lý người nước ngoài tham gia hoạt động du lịch tại Việt Nam.

Mặc dù công tác quản lý hoạt động kinh doanh khách Trung Quốc đã được quan tâm nhưng hiệu quả chưa cao do một số nguyên nhân sau: công tác thực thi pháp luật và quản lý điểm đến tại các địa phương chưa quyết liệt, một số địa phương còn lúng túng, chưa có kinh nghiệm và nguồn nhân lực để quản lý thị trường khách Trung Quốc, nhất là khi lượng khách tăng đột biến; sự phối kết hợp giữa các cấp, các cơ quan chức năng chưa thường xuyên, kịp thời đồng bộ, nhất là sự phối hợp của cơ quan thuế, quản lý thị trường với ngành du lịch.

Hoạt động kinh doanh lữ hành liên quan đến nhiều dịch vụ khác nhau. Ngành du lịch chỉ trực tiếp quản lý hoạt động của doanh nghiệp lữ hành, hướng dẫn viên, khách sạn... còn các khu vui chơi giải trí, nhà hàng, điểm mua sắm hàng hóa do các ngành khác quản lý. Để quản lý tour giá rẻ ngoài vai trò và trách nhiệm của ngành du lịch cần sự phối hợp chặt chẽ và vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương, quản lý thị trường, thuế, ngân hàng, công an, quản lý lao động…

Tour giá rẻ đón khách Trung Quốc thường có sự tham gia điều hành trực tiếp của người Trung Quốc, những người này thường cư trú dài hạn hoặc xuất nhập cảnh Việt Nam nhiều lần, do đó cần tăng cường công tác quản lý xuất nhập cảnh, cư trú, quản lý lao động của người nước ngoài tại Việt Nam.

Để quản lý và đạt được hiệu quả từ việc đón khách du lịch qua tour giá rẻ đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ, chia sẻ lợi ích giữa công ty lữ hành với các nhà cung ứng dịch vụ, tạo ra các sản phẩm du lịch có mức giá cạnh tranh. Phát triển du lịch không chỉ nhằm vào việc thu hút tăng lượng khách đến mà nhằm vào mục tiêu lớn hơn là tăng chi tiêu của khách du lịch, phát triển bền vững. Cần có chính sách khuyến khích phát triển các trung tâm mua sắm, vui chơi giải trí với hàng hóa được sản xuất tại Việt Nam để thúc đẩy tăng tiêu dùng tại chỗ của du khách, đồng thời hỗ trợ hoạt động kinh doanh lữ hành.

Hoàng Mai

Chủ Nhật, 14 Tháng mười 2018 09:30

Một số chính sách phát triển du lịch quốc gia Úc

Tác giả :

nctd-chienthang-2018-0   Du lịch là một ngành công nghiệp quan trọng của Úc, tính đến năm 2017, số lượt khách du lịch quốc tế đạt 8,8 triệu lượt, tăng 7% so với năm 2016 (8,3 triệu lượt), tổng thu từ khách du lịch là 41,3 tỷ đô la, tăng 6% so với năm 2016 (39,1 tỷ đô la), năng lực vận chuyển hàng không quốc tế đạt tổng số 25,9 triệu ghế ngồi tăng 5% so với năm 2016 (24,6 triệu chỗ). Tính đến tháng 3/2018, Úc đón được 9 triệu khách du lịch quốc tế, tăng 7,7% so với năm 2017[1]. Dự kiến đến năm 2026 – 2027, số lượt khách du lịch quốc tế ước đạt 15 triệu lượt, tăng 15% so với năm 2016 – 2017, mức tăng trưởng hàng năm 5,8%, trong đó, khách Trung Quốc: 26,2 tỷ lượt; New Zealand 3,9 tỷ; Mỹ: 6,3 tỷ. Tổng thu từ chi tiêu lưu trú qua đêm của khách du lịch quốc tế là 151,4 tỷ đô la, tăng 50% so với năm 2016 – 2017, đạt mức tăng trưởng hàng năm 4.1%.[2]

   Ngành Du lịch thu hút hơn 500.000 lao động trực tiếp và đóng góp hơn 10% tổng thu nhập xuất khẩu, trở thành ngành dịch vụ xuất khẩu lớn nhất của Úc[3]. Ngành Du lịch giúp tài trợ cơ sở hạ tầng kinh tế quan trọng như sân bay, giao thông, CSLTDL và cơ sở vật chất kỹ thuật khác. Du lịch cũng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế vùng Australia, cứ mỗi đô la của khách du lịch chi tiêu thì có với 46 xu đóng góp cho kinh tế vùng của Úc. Có gần 280.000 doanh nghiệp du lịch bao gồm CSLTDL, quán bar, cà phê, casino, công ty du lịch, đại lý du lịch, công ty vận tải... Ngành Du lịch là động lực phát triển các ngành khác nhờ chuỗi cung ứng liên kết mạnh mẽ. Cứ mỗi đô la chi tiêu cho hoạt động du lịch đã tạo thêm 91 xu cho các lĩnh vực khác của nền kinh tế - tỷ lệ này cao hơn so với các tạo động tạo thêm trong các ngành khai thác mỏ, nông nghiệp và dịch vụ tài chính. Du lịch không chỉ là đi chơi trong các dịp nghỉ lễ mà du lịch còn là ngành kinh tế thu lợi nhuận từ dịch vụ đi lại trong nước và quốc tế với mục đích công vụ, học tập, làm việc, và thăm gia đình và bạn bè.

   Thế mạnh của du lịch Úc là tài nguyên du lịch thiên nhiên và văn hóa. Cảnh quan độc đáo, dịch vụ du lịch dựa vào thiên nhiên; Văn hóa và di sản bản địa đặc sắc với nhiều thành phố và vùng miền giàu bản sắc; người dân thân thiện và khoan dung. Nhưng hơn thế, du lịch Úc chú trọng nâng cao chất lượng, xây dựng sản phẩm có chọn lọc, chuyên môn hóa và cơ sở hạ tầng đảm bảo. Nhờ vào những điểm mạnh này và khi người dân ở các cường quốc kinh tế châu Á, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ đang có xu hướng tiêu dùng mạnh hơn, đồng thời quan tâm, đánh giá cao du lịch Úc, cuộc cách mạng kỹ thuật số... dự kiến đến năm 2020, ngành Du lịch Úc sẽ đóng góp lên tới 50% GDP, ước tính khoảng 51 tỷ USD.

   Năm 2016, GDP trên đầu người của Úc là 1189 USD, dự kiến đến năm 2030 con số này tăng lên 1663 USD và đến năm 2050 là 2564 USD.[4]

   Tổ chức Du lịch Úc có nhiệm vụ chính là tiếp thị du lịch quốc gia với vai trò như một động lực tăng trưởng, xác định mục tiêu đem lại lợi ích kinh tế vững bền, tăng trưởng việc làm; Tăng trưởng tổng chi tiêu của du khách; Tăng trưởng về các khoản chi tiêu phân tán và chi tiêu của du khách theo khu vực; Tăng số lượt tham quan quốc tế và nội địa (số du khách, độ dài lưu trú, chi tiêu trên một khách, chi tiêu bình quân ngày).[5]

   Tháng 6/2012, Chính phủ Úc đã bãi bỏ đề xuất tăng thuế xuất cảnh và tăng gấp đôi tỷ lệ doanh thu từ thuế xuất cảnh từ 10% đến 20% để hỗ trợ cho công tác xúc tiến du lịch - dự kiến khoản thu này có trị giá 48 triệu Đô la Úc.[6]

   Dự báo xu hướng thị trường chính[7],[8]

   Trong những năm qua, Ủy ban Du lịch Úc (ATC) [9] đã thực hiện dự án phát triển du lịch trung và dài hạn. ATC có đại diện tại 20 quốc gia trên toàn cầu chịu trách nhiệm về việc quảng bá Úc, xây dựng hình ảnh một nước Úc là một điểm đến du lịch không thể bỏ qua. Nghiên cứu cho thấy rằng người tiêu dùng ở một số thị trường xem Úc là tốn kém, quá xa. Để khắc phục những hạn chế này, Úc xây dựng một chiến lược marketing thông minh hơn, có tính đổi mới và độc đáo. Ngoài các chương trình FAM và Press, tiếp thị trực tiếp, trực tuyến thông qua Australia.com, qua những người có tầm ảnh hưởng, chương trình khuyến mãi, và các sự kiện thương mại.[10], ATC còn thực hiện các chiến dịch quảng cáo Chiến dịch quảng cáo linh hoạt, được thiết kế riêng cho các thị trường du lịch trọng điểm, như châu Âu, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản... Tính linh hoạt thể hiện qua việc phản ứng nhanh chóng với những hiện tượng tác động đến tâm lý của khách du lịch, thu hồi kinh phí dự kiến và tái phân bổ cho các hoạt động tiếp thị khi điều kiện bình thường trở lại.

   Bộ Tài nguyên, Năng lượng và Du lịch Úc xây dựng Chiến lược phát triển du lịch quốc gia từ tháng 12/2009[11] và được cập nhật cho tới thời điểm hiện tại. Bộ cũng giới thiệu tiềm năng ngành Du lịch thông qua chương trình “Du lịch 2020” vào tháng 11/2010. “Du lịch 2020” được xem là văn bản quan trọng thực hiện Chiến lược du lịch dài hạn quốc gia nhằm đạt được tăng trưởng theo dự kiến của ngành Du lịch đến năm 2020. “Du lịch 2020” xây dựng căn cứ vào sự tập trung, nghiên cứu và hợp tác lâu dài để tối đa hóa tiềm năng kinh tế của ngành Du lịch. “Du lịch 2020” thể hiện mức độ hợp tác mạnh mẽ nhất từ trước tới nay giữa ngành Du lịch và chính phủ Úc, các tiểu bang và lãnh thổ để giảm thiểu những vướng mắc cản trở tăng trưởng của ngành Du lịch. Đó là, xác định rõ Chính phủ ưu tiên việc hoạch định khung chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngành, nâng cao năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu và tận dụng các cơ hội ở Châu Á.

   Du lịch 2020 đánh dấu giai đoạn tiếp theo trong sự phát triển của Chiến lược du lịch dài hạn quốc gia. Thông qua Du lịch 2020, chính quyền các cấp sẽ cần phải làm việc với các nhà khai thác ngành du lịch để thực hiện chiến lược và theo dõi tiến độ so với tiềm năng ngành du lịch 2020.

   Tuy nhiên, tính cạnh tranh và sự trượt giá của đồng đô la Úc là hai trong số nhiều thách thức của ngành Du lịch Úc. Thị phần quốc tế của Úc đã giảm trong những năm gần đây và chi tiêu du lịch trong nước đã giảm từ năm 2000. Vì vậy, chương trình “Du lịch 2020” ưu tiên những lĩnh vực ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và dịch vụ, bao gồm: đầu tư vào sản phẩm mới, nân cao hiệu suất, tăng cường ứng dụng công nghệ kỹ thuật số và giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động có kỹ năng.

Vấn đề

Đến năm 2020

- Hiện tại ngành Du lịch đang cần tuyển dụng 36.000 việc làm, nhưng để đáp ứng tiềm năng thì phải cần thêm từ 56.000 - 152.000 việc làm.

- Cần thêm từ 40.000 - 70.000 phòng mới để đáp ứng tiềm năng

- Cần nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu tăng trưởng 40-50% cho vận chuyển hàng không quốc tế và 23-30% cho nội địa

- Chỉ 1/3 công ty du lịch của Úc có đặt phòng và thanh toán trực tuyến

- Đạt 115 tỷ USD - 140 tỷ USD chi tiêu cho dịch vụ lưu trú

- Duy trì hoặc tăng thị phần tại các thị trường trọng điểm

- Tăng cường lực lượng lao động

- Nâng cao năng lực CSLTDL

- Nâng cao năng lực hàng không quốc tế và nội địa

- Nâng cao chất lượng và hiệu suất ngành

   6 lĩnh vực chiến lược của Ú

   1. Kích cầu của thị trường châu Á

   Trong giai đoạn 2010-20, Úc xác định châu Á sẽ đóng góp hơn một nửa mức tăng trưởng du lịch quốc tế 42% chủ yếu từ Trung Quốc. Vì hầu hết các nước ở châu Á đều tăng trưởng kinh tế và khả năng chi trả, đặc biệt ở tầng lớp trung lưu (như Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia).

   Mục tiêu: thu hút đối tượng khách du lịch có khả năng chi tiêu cao, đặc biệt là từ thị trường châu Á, bằng cách cung cấp sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao. Cụ thể là:

   - Xúc tiến du lịch thông qua xuất bản sách thế kỷ (Chính phủ Úc - RET chủ trì, tham vấn với công ty PM&C)

   - Triển khai Chiến lược “Du lịch 2020” tập trung vào thị trường Trung Quốc (TA, STO) và Ấn Độ (Chính phủ Úc - TA)

   - Triển khai Kế hoạch hành động trên thị trường Châu Á (TA, STO)

   - Tiếp tục xây dựng Đề án Đích đã được phê duyệt về điểm đến thu hút khách Trung Quốc (ADS) (Chính phủ Úc - RET chủ trì)

   - Thực hiện các sáng kiến quản trị chất lượng bao gồm chứng nhận T-QUAL (Chính phủ Úc - RET chủ trì)

   - Cấp kinh phí cho chiến lược nâng cao chất lượng T-QUAL tại thị trường Trung Quốc (Chính phủ Úc - RET chủ trì)

   - Đánh giá cơ hội kinh doanh và tiếp tục xây dựng kế hoạch cho khu vực châu Á (TA, STOs, Ban Sự kiện Kinh doanh)

   - Đào tạo cho các công ty du lịch về năng lực sẵn sàng phục vụ khách Trung Quốc (hiệp hội Du lịch)

   - Đáp ứng yêu cầu về chất lượng và nắm bắt cơ hội xây dựng sản phẩm cho thị trường Châu Á (STO, hiệp hội Du lịch, công ty du lịch

   2. Nâng cao năng lực cạnh tranh kỹ thuật số

   Yếu tố khả năng làm chủ công nghệ số không những góp phần thực hiện hiệu quả công tác marketing và phân phối sản phẩm mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến. Đến năm 2020, dự kiến 80% người dân Úc sử dụng công cụ trực tuyến và con số này trên cả thế giới sẽ là 66%. Trong bảng phân tích trên đây, chỉ 1/3 công ty du lịch của Úc có đặt phòng và thanh toán trực tuyến, vì vậy Chính phủ đã quan tâm tới vấn đề này để đảm bảo nhiều doanh nghiệp du lịch hơn tận dụng các cơ hội do công cụ trực tuyến mang lại.

   Mục tiêu: Tận dụng tối đa lợi thế của công nghệ thông tin và truyền thông để thu hút khách du lịch và giao dịch trực tuyến. Cụ thể là:

   - Thực hiện Chiến lược Quốc gia về sử dụng công cụ trực tuyến trong du lịch (NOST) (theo phân công trách nhiệm trong Kế hoạch Hành động)

   - Từng bước thực hiện kế hoạch hành động Chiến lược Tiếp thị Kỹ thuật số 2020: xây dựng chiến lược truyền thông xã hội mới (TA)

   - Liên tục cải tiến bộ công cụ điện tử (e-Kit) phục vụ cho ngành Du lịch (hiệp hội Du lịch, STO)

   - Triển khai mạng băng thông rộng quốc gia và chương trình hỗ trợ doanh nghiệp (Chính phủ Úc - DBCDE chủ trì)

   - Thực hiện xác định điểm chuẩn và nghiên cứu theo dõi (TRA, tổ công tác phân phối kỹ thuật số)

   - Xây dựng chương trình nghiên cứu về xu thế kỹ thuật số (TA, TRA, Hội đồng tư vấn nghiên cứu)

   - Giám sát tiến bộ (tổ công tác phân phối kỹ thuật số)

   3. Khuyến khích đầu tư và thực hiện chương trình cải cách quy định

   Mức độ đầu tư về du lịch trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2010 chỉ tăng ½ so với mức đầu tư vào các lĩnh vực khác của nền kinh tế Úc. Chính phủ đã nghiên cứu tìm giải pháp giảm bớt các rào cản đầu tư để ngành Du lịch hấp dẫn đầu tư vào xây dựng sản phẩm mới và kết cấu hạ tầng.

   Mục tiêu: Chính phủ loại bỏ các rào cản quan liêu và tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp đầu tư vào CSLTDL và kết cấu hạ tầng du lịch. Cụ thể là:

   - Hoàn tất chương trình cải tổ du lịch và từng bước nghiên cứu chỉ ra các vấn đề COAG (Chính phủ Úc - RET chủ trì)

   - Thực hiện kế hoạch hỗ trợ và tạo thuận lợi để thu hút đầu tư du lịch cho các nhu cầu địa lý khác nhau (TA, cơ quan thương mại Úc, STO)

   - Làm việc với Chính phủ để xác định và thúc đẩy cơ hội đầu tư du lịch (các công ty du lịch, Hiệp hội Du lịch, STO)

   - Xây dựng kế hoạch thực hiện nhằm đáp ứng các ưu tiên về cải cách quy định, làm việc với chính phủ. (STO làm việc với các cơ quan quản lý bang, vùng lãnh thổ và RET)

   - Theo dõi, giám sát đầu tư du lịch (Chính phủ Úc - TRA chủ trì)

   - Hoàn thiện và hỗ trợ sử dụng quốc gia công cụ lập kế hoạch quản lý điểm đến (ARTN)

   - Giám sát tiến độ (Tổ công tác đầu tư và cải cách quy định)

   4. Đảm bảo môi trường vận tải du lịch thuận lợi cho tăng trưởng

   Năng lực vận chuyển du lịch và kết cấu hạ tầng tạo điều kiện cho khách đến và đi. Chính phủ đã phối hợp với ngành du lịch để tạo điều kiện và đảm bảo năng lực vận tải và kết cấu hạ tầng đáp ứng nhu cầu vận chuyển du lịch.

   Mục tiêu: Nâng cao năng lực vận chuyển du lịch và kết cấu hạ tầng để đảm bảo phục vụ số lượng khách đến và đi du lịch trong nước Úc trên cơ sở phát triển bền vững. Cụ thể là:

   - Đàm phán về Thỏa thuận dịch vụ hàng không đáp ứng nhu cầu trong tương lai (Chính phủ Úc - DIT chủ trì)

   - Nâng cao năng lực đáp ứng với tăng trưởng bền vững và tuyến đường mới (sân bay, hãng hàng không, STO và TA phối hợp)

   - Hoàn thiện và trao đổi về “Chiến lược sân bay khu vực” (Tổ công tác tiếp cận điểm đến du lịch, STO và các sân bay)

   - Khai thác tối đa các cơ hội hàng không (các công ty du lịch)

   - Tiếp tục thực hiện đề án Nghiên cứu Du lịch bằng tàu thủy và nghiên cứu xây dựng thỏa thuận Hành khách xuyên Tasman (Tổ công tác tiếp cận điểm đến du lịch)

   - Tiếp tục xem xét kịch bản xu thế khách du lịch 2020 trong quy hoạch / tuyển dụng nhân viên cho các sân bay (Tổ công tác tiếp cận điểm đến du lịch, TRA, Ủy ban quốc gia về tạo điều kiện cho hành khách và các sân bay)

   5. Tăng cường nguồn cung nhân lực, kỹ năng và sự tham gia của người dân địa phương

   Tình trạng thiếu hụt lao động thể hiện ở qua thống kê 36.000 việc làm đang cần tuyển dụng (bao gồm 26.000 vị trí cần kỹ năng cao) và tỷ lệ thiếu nhân lực gấp bốn lần mức trung bình quốc gia làm giảm hiệu suất phục vụ khách du lịch. Để giải quyết vấn đề này, Chính phủ đã hỗ trợ Ngành tuyển dụng, duy trì, dịch chuyển lao động, giáo dục và đào tạo nghề để thu hẹp khoảng thiếu hụt này, đồng thời tìm cách tăng cường nguồn cung nhân lực du lịch có kỹ năng và sự tham gia của người dân địa phương.

   Mục tiêu: Các công ty du lịch có khả năng đáp ứng về nhu cầu và kỹ năng lao động để cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho khách du lịch, trong đó có khách du lịch châu Á. Cụ thể là:

   - Thực hiện thí điểm tại 8 điểm đến thu hút nhất (Tổ công tác về Lao động và Kỹ năng)

   - Tiến triển từ kết quả của các cuộc tọa đàm cấp Bộ trưởng/ ngành về việc đơn giản hóa 457 hướng dẫn quy trình cấp thị thực, xây dựng mẫu hợp đồng lao động cho ngành Du lịch và Khách sạn và triển khai Đề án thí điểm Lao động mùa vụ ở Thái Bình Dương tại Broome (Chính phủ Úc, RET, DIAC và DEEWR chủ trì)

   - Xây dựng và triển khai chương trình thí điểm tạo điều kiện chuyển giao kỹ năng giữa các doanh nghiệp của người địa phương và không phải của người địa phương (Tổ công tác Du lịch cho người địa phương)

   - Trao đổi và khuyến khích sáng kiến của ngành Du lịch và Chính phủ về việc giải quyết vấn đề thiếu hụt lao động và lao động có kỹ năng (STO, hiệp hội Du lịch, công ty du lịch)

   - Giải pháp trực tuyến về giáo dục, đào tạo, tuyển dụng và duy trì ngành Du lịch và Khách sạn với chương trình kết nối “Lao động và Kỹ năng” (Tổ công tác Lao động và Kỹ năng)

   - Cấp kinh phí cho dự án Đầu tư Du lịch Chiến lược T-QUAL để đào tạo kỹ năng kinh doanh cho người bản địa tại Học viện Quốc gia về Đào tạo Du lịch Bản địa (Ayers Rock Resort) (Chính phủ Úc - RET chủ trì)

   - Tạo điều kiện hợp tác giữa các doanh nghiệp của người địa phương và không phải của người địa phương trong ngành du lịch để chuyển giao kỹ năng và phát triển kinh doanh, đảm bảo nhất quán với Chiến lược Phát triển Kinh tế Bản địa (Chính phủ Úc - RET và FAHCSIA chủ trì)

   - Tham gia đánh giá kết quả Hội chợ việc làm (ngành Du lịch)

   6. Nâng cao năng lực phục vụ, hiệu suất và chất lượng

   Hiệu suất làm việc của ngành Du lịch được đánh giá là thấp hơn so với các ngành khác của nền kinh tế Úc. Vì vậy, các công ty du lịch gặp khó khăn trong việc đem lại trải nghiệm cho khách du lịch phù hợp với chi phí. Chính phủ đã phối hợp với Ngành tập trung nâng cao hiệu suất làm việc, đổi mới và chất lượng dịch vụ của Ngành.

   Mục tiêu: công ty du lịch có thể gia tăng lợi nhuận và khả năng tiếp thị thông qua cung cấp sản phẩm và dịch vụ có chất lượng nhờ cải thiện công cụ lập kế hoạch, hệ thống và tiêu chuẩn trong hoạt động kinh doanh. Cụ thể là:

   - Trợ cấp cho việc áp dụng tiêu chuẩn T-QUAL (cơ quan thuộc Chính quyền Úc, hiệp hội Du lịch, công ty du lịch)

   - Khuyến khích nâng cao chất lượng các công ty du lịch, tập trung vào việc tuân thủ theo sự kiểm định T-QUAL (TQCA phối hợp với hiệp hội Du lịch và STO; phối hợp với Chính phủ Úc trong hỗ trợ quản trị (RET) và tiếp thị (TA)

   - Triển khai và thúc đẩy dự án kết nối doanh nghiệp và các sáng kiến doanh nghiệp nhỏ trên toàn quốc cho các công ty du lịch, coi đây như một nâng cao năng lực doanh nghiệp (Chính phủ Úc - DIISR chủ trì)

   - Xây dựng bộ công cụ Năng lực bền vững Ngành (Tổ công tác Năng lực bền vững)

   - Thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp du lịch trong ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua Dự án Thích ứng với Biến đổi khí hậu CSIRO (Tổ công tác Năng lực bền vững)

- Quan tâm nghiên cứu sâu hơn để hỗ trợ nâng cao hiệu suất ngành Du lịch (TRA, Hội đồng Tư vấn Nghiên cứu)

   - Khuyến khích có nhiều kinh nghiệm có gia trị cao làm nền tảng cho xây dựng sản phẩm thông qua chương trình Cảnh quan nước Úc (RET, TA, STO, và các vườn quốc gia Úc)

   - Tạo điều kiện kết nối mạnh mẽ hơn giữa ngành Du lịch và nghệ thuật thông qua các biện pháp phù hợp với Chính sách Văn hoá Quốc gia của Chính phủ Úc (Chính phủ Úc - PM&C & RET chủ trì).

   Thực hiện Chiến lược Du lịch 2020

   Tất cả các bên liên quan có vai trò quan trọng để thực hiện Chiến lược “Du lịch 2020”.

nctd-chienthang-2018-2

   - Các công ty du lịch và các cơ quan trong Ngành sẽ tiếp tục tham gia hoặc hỗ trợ các tổ công tác, đồng thời sử dụng, điều chỉnh và quảng bá kết quả của chiến lược. Có nghĩa là lồng nghép công việc vào các chiến lược và kế hoạch của Ngành, và tận dụng các cơ hội thị trường.

   - Các nhóm công tác sẽ tiếp tục tiến hành và giám sát các hoạt động chính trong Chiến lược, tập hợp các cơ quan của chính phủ, chính quyền và lãnh thổ và ngành Du lịch.

   Hội đồng Chất lượng Du lịch của Úc sẽ tiếp tục phối hợp với chính quyền từ Trung ương tới địa phương và ngành Du lịch để thúc đẩy năng lực cạnh tranh và chất lượng của chương trình trên toàn ngành Du lịch Úc.

   Chính quyền tiểu bang và lãnh thổ sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với ngành Du lịch và cử nhân sự chủ chốt (bao gồm cả các vị trí lãnh đạo) tham gia tất cả các lĩnh vực chiến lược. Các cơ quan thuộc chính phủ tiểu bang và lãnh thổ khác quản lý các công cụ thúc đẩy quan trọng cho du lịch, có có vai trò quan trọng giống như các tổ chức du lịch của vùng và của địa phương.

   Chính phủ Úc có vai trò chủ trì trong triển khai nhiều lĩnh vực liên quan đến quyền quản lý của Bộ Tài nguyên, Năng lượng và Du lịch. Như vậy, ngành Du lịch Úc và các cơ quan chính phủ khác quản lý các công cụ quản lý về chính sách và pháp lý quan trọng ảnh hưởng đến du lịch.

   Bộ trưởng Du lịch, cả ở cấp Liên bang và ở tất cả các tiểu bang và vùng lãnh thổ có vai trò lãnh đạo, được Ủy ban Thường vụ Du lịch Úc hỗ trợ (bao gồm Chủ tịch (CEO) của các tổ chức du lịch hàng đầu thuộc Chính phủ).

   Việc triển khai sẽ được thực hiện theo từng giai đoạn, trong đó, có kế hoạch triển khai chi tiết hơn để hỗ trợ Chiến lược, bao gồm mốc thời gian và chi tiết về đo lường kết quả.

Chiến lược Truyền thông

nctd-chienthang-2018-1

 

   Truyền thông đóng vai trò then chốt để các bên liên quan và ngành Du lịch cập nhật tiến trình thực hiện chiến lược Du lịch 2020.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

Bộ Tài nguyên, Năng lượng và Du lịch, Úc (2010), Du lịch đến năm 2020

 
 

IMF (số liệu năm 2016); PwC (dự báo cho năm 2030 và 2050)

 
 

UNWTO, Cấu trúc và Ngân sách của các Tổ chức Du lịch Quốc gia 2004-2005

 
 

Britain Tourism Strategy: Delivering a Golden Legacy A growth strategy for inbound tourism to Britain from 2012 to 2020 - VisitBritain Consultation Document 2012

 
 

OECD, Innovation and Growth in Tourism

 
 

Bob Pegler, Former Minister-Counsellor at the Permanent Delegation of Australia to the OECD, Innovation in the field of market communication and marketing: the Australian initiative

 
 

Trang web: http://www.tourism.australia.com/en/markets-and-research/tourism-statistics/international-visitor-arrivals.html

Truy cập ngày 15/6/2018

Trang web: https://www.tra.gov.au/ArticleDocuments/257/Tourism%20Forecasts.pdf.aspx?Embed=Y

Truy cập ngày 15/6/2018

Trang web:

www.atc.australia.com

Truy cập ngày 15/6/2018

Trang web: http://www.tourism.australia.com/en/news-and-industry-tools/latest-news/tourism-australia-and-virgin-australia-expand-marketing-deal.html

Truy cập ngày 15/6/2018

 



[1] http://www.tourism.australia.com/en/markets-and-research/tourism-statistics/international-visitor-arrivals.html

[2] https://www.tra.gov.au/ArticleDocuments/257/Tourism%20Forecasts.pdf.aspx?Embed=Y

[3] Bộ Tài nguyên, Năng lượng và Du lịch, Úc (2010), Du lịch đến năm 2020

[4] IMF (số liệu năm 2016); PwC (dự báo cho năm 2030 và 2050)

[5] UNWTO, Cấu trúc và Ngân sách của các Tổ chức Du lịch Quốc gia 2004-2005

[6] Britain Tourism Strategy: Delivering a Golden Legacy A growth strategy for inbound tourism to Britain from 2012 to 2020 - VisitBritain Consultation Document 2012

[7] OECD, Innovation and Growth in Tourism,

[8] Bob Pegler, Former Minister-Counsellor at the Permanent Delegation of Australia to the OECD, Innovation in the field of market communication and marketing: the Australian initiative

[9] www.atc.australia.com

[10] http://www.tourism.australia.com/en/news-and-industry-tools/latest-news/tourism-australia-and-virgin-australia-expand-marketing-deal.html

[11] Bộ Tài nguyên, Năng lượng và Du lịch, Úc (2010), Du lịch 2020

Chiến Thắng

nctd-chienthang-hanquoc-2018   Tình hình du lịch Hàn Quốc những năm gần đây

   Theo báo cáo UNWTO tại kỳ họp Đại hội đồng lần thứ 19 (8-14/10/2011, Gyeongju, Hàn Quốc), dự kiến sẽ có khoảng 1,8 tỷ lượt khách đi du lịch quốc tế vào năm 2030, du lịch sẽ tiếp tục tăng trưởng trong hai thập kỷ tới , thu hút 10% lao động ở các quốc gia Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản...[1] Năm 2017, tổng số khách du lịch quốc tế đến Hàn Quốc đạt 13,3 triệu lượt, giảm 22,7% so với năm 2016 (17,24 triệu lượt)[2], mặc dù số liệu khách du lịch quốc tế năm 2016 tăng 30,3% so với năm 2015. Doanh thu từ du lịch đạt 17,210 triệu USD[3], GDP trên đầu người của Hàn Quốc là 1.929 USD, dự kiến đến năm 2030 con số này tăng lên 2.651 USD, đến năm 2050 là 3.539 USD.[4]

   Tổ chức Du lịch Hàn Quốc (Korean Tourism Organisation - KTO), trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc thành lập năm 1962, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hoá, thể thao và du lịch. Thứ trưởng phụ trách về du lịch giúp việc cho Bộ trưởng, chịu trách nhiệm điều hành, chỉ đạo Cục Du lịch. Cục Du lịch gồm 7 phòng: phòng chính sách du lịch, phòng tài nguyên du lịch, phòng công nghiệp du lịch, phòng hợp tác quốc tế, phòng xúc tiến du lịch, phòng phát triển du lịch và nghỉ dưỡng. Hiện tổ chức có 27 văn phòng đại diện ở nước ngoài và 5 văn phòng trong nước với tổng số 765 nhân viên. Các Văn phòng đại diện do Cơ quan Du lịch quốc gia KNTO (Korea National Tourism Organization) quản lý và điều hành, nhân sự cũng do KNTO quyết định. Nhiệm vụ chính của KNTO là quảng bá và phát triển du lịch - là ngành kinh tế chiến lược; xây dựng chính sách phát triển du lịch và thiết lập mối quan hệ hợp tác với các đơn vị tư nhân trong lĩnh vực du lịch.[5]

   Để nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế của ngành du lịch Hàn Quốc, Bộ Du lịch xác định tầm quan trọng của việc hoạch định thể chế, tạo điều kiện hỗ trợ các doanh nghiệp du lịch lớn, xây dựng sản phẩm du lịch biển, kết hợp với MICE và du lịch chăm sóc sức khỏe. Bộ Du lịch cũng đã xây dựng chính sách thu hút nhiều hơn khách du lịch đến các vùng để hỗ trợ nền tảng phát triển vững chắc hơn cho du lịch địa phương. Hàn Quốc xây dựng sản phẩm đặc trưng cho quốc gia là du lịch gắn với văn hóa truyền thống, tìm kiếm và tái tạo những tiềm năng văn hóa độc đáo trở thành sản phẩm du lịch có chất lượng cao. Năm 2015, Bộ Du lịch đã lựa chọn 10 chủ đề du lịch văn hóa truyền thống, điển hình như di tích lịch sử, văn hóa (gắn với nhà văn hóa và triều đại Joseon), lối sống truyền thống (y học, trang phục và đồ gốm Hàn Quốc)... [6]

   Sự phát triển vượt bậc về khoa học công nghệ đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành dịch vụ du lịch, trong đó phải kể đến sân bay quốc tế Incheon, cùng với Sân bay quốc tế Hồng Kông và sân bay Changi, đã trở thành những trung tâm vận tải quan trọng ở châu Á. Những thế mạnh của du lịch Hàn Quốc là văn hoá, truyền thống lâu đời mang ảnh hưởng của Trung Hoa; giao thông đi lại thuận tiện; tính hiện đại và đa dạng của các khu vui chơi giải trí; đặc biệt là ngành công nghiệp giải trí (điện ảnh, truyền hình, âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn). Hàn Quốc được biết đến với khẩu hiệu ‘Dynamic Korea’ (Hàn Quốc năng động). MICE cũng là một thế mạnh của ngành dịch vụ Hàn Quốc. Điểm yếu và cũng là trở ngại lớn nhất cho sự phát triển của du lịch Hàn Quốc là ngôn ngữ. Tiếng Hàn là ngôn ngữ chính thống duy nhất được sử dụng tại Hàn Quốc. Tiếng Anh và một số thứ tiếng khác như tiếng Trung, tiếng Nhật cũng được sử dụng với phạm vi nhỏ hẹp và chỉ ở các trung tâm du lịch, các cơ sở lưu trú cao cấp.

   Hàn Quốc có “Kế hoạch Quảng bá Du lịch” nằm trong kế hoạch 5 năm tới (từ 2018 – 2022) với các ngành liên quan. Theo một điều tra mới đây của Hàn Quốc[7], hoạt động du lịch được ưa thích nhất trong số các hoạt động giải trí, chiếm 38,3%, tiếp đó là hoạt động xe biểu diễn văn hóa, nghệ thuật (12,2%) và đứng thứ 3 là hoạt động thể thao (12,2%). Ngành Du lịch và dịch vụ tạo ra nhiều hơn gấp đôi số việc làm so với ngành sản xuất chế biến[8]. Theo Euromonitor International, có 80 % dân số Hàn Quốc đi du lịch vào ngày nghỉ; trong đó tỷ lệ nam và nữ sấp xỉ nhau, độ tuổi đi du lịch từ 15 đến 49 chiếm tỷ lệ cao nhất. Mùa đi du lịch trùng vào các kỳ nghỉ lễ của Hàn Quốc, vào các tháng 1, 2, 6, 7, 8, 9 và 12. Độ dài ngày nghỉ 03 ngày chiếm tỷ trọng cao nhất, sau đó là từ 4 – 7 ngày, số khách đi du lịch trên 07 ngày chiếm tỷ trọng nhỏ.[9]

 Tổng quan công tác quảng bá và marketing du lịch Hàn Quốc hiện nay[10]

   - Tổ chức các hội chợ du lịch quốc tế và các sự kiện quảng bá du lịch

   - Xây dựng chiến lược thị trường mới, chú trọng thị trường trọng điểm là Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Mông Cổ, Kazakhstan... và các thị trường chi trả cao như Trung Đông và Nga. Đặc biệt, tăng cường các hoạt động trao đổi du lịch giữa Hàn Quốc – Trung Quốc – Nhật Bản

   - Quản lý chặt chẽ các thị trường đang có xu hướng phát triển nhanh như thị trường Đông Nam Á, Đông Bắc Á, có kế hoạch xây dựng thương hiệu chung “Visit East Asia”

   - Phát triển nội dung các loại hình du lịch dựa vào văn hóa “Làn sóng Hàn Quốc”

   - Phát triển các loại hình sản phẩm du lịch gắn với đạo Hồi, như nhà hàng phục vụ người theo Hồi giáo với các bàn, kệ cầu nguyện...

   - Phát triển các sản phẩm du lịch chăm sóc sức khỏe vì sản phẩm có tính cá biệt hóa đối với từng cá nhân và vì vậy chi tiêu của khách tương đối cao.

   - Có chiến lược quảng bá ở nước ngoài, khai thác lợi thế của các sự kiện giao lưu với các quốc gia khác, như sự kiện Thế vận hội mùa đông châu Á

   - Xây dựng hình ảnh theo chủ đề cho mỗi thị trường khác nhau theo chu kỳ 2 năm/ lần

   - Tận dụng công cụ truyền thông kỹ thuật số và đa dạng hóa quảng cáo ở các vùng khác nhau[11]

   - Tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch (Bộ Tư pháp) thực hiện việc cải thiện thủ tục cấp visa như mẫu đăng ký đơn giản cho các chuyến du lịch khuyến thưởng, ngoại giao, sinh viên các trường đại học danh tiếng trên thế giới, nhân viên các tập đoàn của các quốc gia Đông Nam Á, các quốc gia OECD... Đồng thời, cải tiến thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh dễ dàng, tự động hóa cao.

   - Có chính sách cấp visa điện tử cho các thị trường Ấn Độ và Đông Nam Á, bao gồm Indonesia, Việt Nam và Philippines

   - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và xây dựng kết cấu hạ tầng cho ngành Du lịch, hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng sản phẩm du lịch thông minh, doanh nghiệp số để tạo ra sản phẩm du lịch hội tụ của tương lai đáp ứng yêu cầu phát triển phù hợp với CMCN 4.0

   - Nâng cao năng lực quản trị chặt chẽ, nghiêm khắc xử lý các trường hợp vi phạm luật Du lịch, ví dụ không cho phép phá giá thị trường...

   - Cải thiện điều kiện giao thông xuyên biên giới, các đường bay, và quảng bá chính sách tự do hóa hàng không

   - Có chiến lược xây dựng mô hình hợp tác đa phương về phát triển du lịch, trong đó, chú trọng kênh đối tác với các tổ chức như UNWTO, PATA, Ủy ban Du lịch của OECD, APEC, và ASEAN...

   - Chủ động trong vai trò chủ chốt thu hút các chuyên gia du lịch, các hội nghị, hội thảo cho ngành Du lịch

   - Phổ biến thông điệp mô hình phát triển du lịch thành công của Hàn Quốc đến từng công ty, viện nghiên cứu của Hàn Quốc.

   - Thúc đẩy các dự án có vốn đầu tư nước ngoài (ODA) để tăng cơ hội đầu tư

   - Hiệp hội du lịch Hàn Quốc quảng bá du lịch thông qua chương trình phát sóng các buổi hòa nhạc K-Pop, phim truyền hình Hàn Quốc, gặp gỡ các ngôi sao, người nổi tiếng Hàn Quốc, gắn với trải nghiệm ẩm thực và văn hóa Hàn Quốc.

   - Phát triển thị trường dựa trên sự lớn mạnh của công ty tư nhân và thúc đẩy mô hình quảng bá du lịch dựa trên mối quan hệ đối tác công tư.

   - Cộng đồng khởi nghiệp Hàn Quốc với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã thành lập “Trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp du lịch tiềm năng” (tourism venture incubation Center), với các dịch vụ tư vấn phù hợp (quản lý tài chính, pháp lý, marketing...)

   Kế hoạch Phát triển Du lịch Tương lai

   - Xây dựng Luật Du lịch sửa đổi, đặt trọng tâm cho nhiệm vụ quảng bá du lịch và Chiến lược Phát triển Du lịch Quốc gia, trong đó tăng cường hơn nữa sự tham gia của công chúng vào phát triển du lịch và nâng cao chất lượng hệ thống cơ sở đào tạo nghề và cấp chứng chỉ trong ngành Du lịch.

   - Hình ảnh Hàn Quốc đa dạng được thể hiện trong kế hoạch quảng bá khác nhau cho các thị trường chiến lược.

   - Tạo điều kiện thuận lợi cấp visa cho khách du lịch Trung Quốc, đặc biệt thu hút đối tượng khách có khả năng chi trả cao và chú trọng vào các thị trường đang nổi khác.

   - Xây dựng sản phẩm du lịch chất lượng cao để phục vụ khách du lịch cao cấp

   - Xây dựng sản phẩm du lịch gắn với làn sóng Hàn Quốc, lựa chọn “Nhóm sản phẩm du lịch chăm sóc sức khỏe”. Ngành công nghiệp sáng tạo sẽ trở thành một ngành mang lại giá trị tạo thêm cho du lịch.

   Dự báo đến năm 2022

      - Tăng số lượng khách của các thị trường Nhật Bản, Trung Đông, Trung Quốc và các vùng lãnh thổ từ 6,4 triệu lượt năm 2007 lên 8,5 triệu lượt.

      - Tăng số lượt khách quay trở lại từ 7 triệu lên 15 triệu lượt.

      -  Tỷ lệ khách du lịch đi lẻ tăng từ 75% lên 80%.

      - Thu nhập từ du lịch tăng từ 17 nghìn tỷ Won (15,42 tỷ USD) lên 28 nghìn tỷ Won (25,40 tỷ USD).

      - Tăng thứ hạng năng lực cạnh tranh về du lịch và lữ hành từ 19 (2016) lên 15

      - Tăng chi tiêu xúc tiến du lịch từ 25% lên 30%

      - Cải cách ngành Du lịch, chú trọng tới việc tăng cường hiệu lực của các quy định

      - Huy động kinh phí cho quỹ phát triển du lịch lên tới 150 nghìn tỷ Won

      - 800 công ty cung cấp dịch vụ du lịch mới của tương lai

Kế hoạch hành động đến năm 2022

$11.     Xây dựng chiến lược phát triển du lịch

$12.     Quan tâm đến bảo vệ khách du lịch

$13.     Nâng cao năng lực phục vụ và nền tảng phát triển du lịch nội địa

$14.     Xây dựng chiến lược riêng biệt cho các thị trường

$15.     Chú trọng thị trường khách du lịch cao cấp

a.      Du lịch bền vững, gắn với

 i.      MICE

ii.      Du lịch y tế

iii.      Du lịch nông thôn

iv.      Du lịch tàu biển, nâng cấp kết cấu hạ tầng

1b.     Du lịch cao cấp

$16.     Đổi mới du lịch sinh thái

1a.      Công ty du lịch sinh thái sáng tạo, đổi mới

1b.     Ngành Du lịch huy động thêm cho quỹ phát triển du lịch

1c.      Tri trả công bằng cho dịch vụ môi trường

$17.     Hỗ trợ chuyên môn tùy theo loại hình kinh doanh

1a.      Kiến thức, thông tin

1b.     Mở rộng dịch vụ trí tuệ nhân tạo

$18.     Cải cách quy định ngành Du lịch để hỗ trợ tăng trưởng

1a.      Nhanh chóng vượt qua thách thức trong kinh doanh

1b.     Đẩy mạnh xây dựng quỹ hỗ trợ phát triển du lịch

1c.      Cải cách quy định cho ngành Du lịch

$19.     Cải thiện hệ thống pháp lý ngành Du lịch cho tương lai

1a.      Trình Quốc hội Luật Du lịch sửa đổi

1b.     Thường xuyên truyền thông cho chính quyền địa phương


TÀI LIỆU THAM KHẢO

$11.                  

UNWTO (2017). Tourism Highlights 2017 Edition. https://www.e-unwto.org/doi/pdf/10.18111/9789284419029

 

$12.                  

IMF (số liệu năm 2016); PwC (dự báo cho năm 2030 và 2050)

 

$13.                  

BOK – Ngân hàng Hàn Quốc (2014): Nghiên cứu Ngành

 

$14.                  

Bộ VHTTDL, Báo cáo tổng hợp Đề án Đẩy mạn thu hút khách du lịch Hàn Quốc đến Việt Nam giai đoạn 2012 - 2015

 

$15.                  

Bộ VHDL Hàn Quốc, Ban Hợp tác, Báo cáo phục vụ cuộc họp Bộ trưởng về Kế hoạch Xúc tiến Quảng bá Du lịch Quốc gia, tháng 12/2017

 

$16.                  

Trang web https://kto.visitkorea.or.kr/eng/tourismStatics/keyFacts/KoreaMonthlyStatistics/eng/inout/inout.kto?func_name=3

Truy cập ngày 15/6/2018

https://www.linkedin.com/pulse/current-status-future-outlook-koreas-tourism-leisure-industry-kim/

Truy cập ngày 15/6/2018

Trang web http://www.joneslanglasalle.com.vn/vietnam/en-gb/Research/Vietnam-Spotlight%20on%20the%20Accommodation%20and%20Tourism%20Industry.pdf

Truy cập ngày 15/6/2018

 



[1] UNWTO (2017). Tourism Highlights 2017 Edition. https://www.e-unwto.org/doi/pdf/10.18111/9789284419029

[2] https://kto.visitkorea.or.kr/eng/tourismStatics/keyFacts/KoreaMonthlyStatistics/eng/inout/inout.kto?func_name=3

[3] UNWTO (2017). Tourism Highlights 2017 Edition. https://www.e-unwto.org/doi/pdf/10.18111/9789284419029

[4] IMF (số liệu năm 2016); PwC (dự báo cho năm 2030 và 2050)

[5] UNWTO, Cấu trúc và Ngân sách của các Tổ chức Du lịch Quốc gia 2004-2005

[6] https://www.linkedin.com/pulse/current-status-future-outlook-koreas-tourism-leisure-industry-kim/

[7] Bộ VHDL Hàn Quốc, Ban Hợp tác, Báo cáo phục vụ cuộc họp Bộ trưởng về Kế hoạch Xúc tiến Quảng bá Du lịch Quốc gia, tháng 12/2017

[8] 2014, BOK – Ngân hàng Hàn Quốc: Nghiên cứu Ngành: tỷ số tạo thêm việc làm cho ngành dịch vụ: 17.3; sản xuất: 8.8; du lịch: 18.9

[9] Bộ VHTTDL, Báo cáo tổng hợp Đề án Đẩy mạn thu hút khách du lịch Hàn Quốc đến Việt Nam giai đoạn 2012 - 2015

[10] Bộ VHDL Hàn Quốc, Ban Hợp tác, Báo cáo phục vụ cuộc họp Bộ trưởng về Kế hoạch Xúc tiến Quảng bá Du lịch Quốc gia, tháng 12/2017

[11] Đối với thị trường khách Hồi giáo, tranh thủ quảng bá vào tháng ăn kiêng Ramadan

Chiến Thắng

nctd-mai-2018-lisbon   Trong một nghiên cứu về du lịch đô thị của Viện Nghiên cứu so sánh đô thị Châu Âu (European Institute for Comparative Urban Research – EURICUR), các chuyên gia đã tới bốn thành phố nghiên cứu là Lisbon (Bồ Đào Nha), Rotterdam (Hà Lan), Turin (Italy) và Lyon (Pháp) trong khoảng một tuần, và hai năm sau, họ đã trở lại hai thành phố (Turin và Lyon). Các chuyên gia đã đích thân thử nghiệm các phương tiện giao thông công cộng và tư nhân, khách sạn, nhà hàng và quán bar; họ đã viếng thăm các trung tâm hội nghị, viện bảo tàng, phòng triển lãm, trung tâm thương mại và tất cả các loại hình du lịch hấp dẫn trong thành phố và trong môi trường xung quanh. Các thông tin khác do các thành phố cung cấp đã được sử dụng xem xét về bối cảnh và chính sách du lịch. Bốn thành phố từ đó đã được đánh giá bằng cách sử dụng các tiêu chí:

   - Có chiến lược quản lý du lịch đô thị;
   - Chất lượng thông tin du lịch và sự hiếu khách;
   - Sự đầy đủ và chất lượng của dịch vụ du lịch bổ trợ;
   - Khả năng tiếp cận từ bên ngoài và bên trong thành phố;
   - Các sự kiện và điểm đến du lịch.
Bốn thành phố được chọn để phân tích đại diện cho các điểm đến du lịch đô thị điển hình.
   Lisbon, là thành phố lớn nhất và là thủ đô của Bồ Đào Nha. Đây là trung tâm hành chính của quận Lisbon và của Região Lisbon (Vùng Lisbon). Thành phố Lisbon có dân số 545.245 người trong phạm vi hành chính của mình và dân số vùng đô thị Lisbon mở rộng là 3 triệu người trên diện tích 958 km2. Vùng đô thị Lisbon là vùng thịnh vượng nhất Bồ Đào Nha, là vùng đô thị lớn thứ 9 Liên minh châu Âu với 2,81 triệu người và chiếm 27% dân số của đất nước, GDP đầu người vùng này cao hơn nhiều mức trung bình của Liên minh châu Âu. Lisbon là phía tây thành phố lớn cực tây châu Âu, cũng như các thành phố thủ đô cực tây và là thủ đô châu Âu duy nhất nằm dọc theo bờ biển Đại Tây Dương. Nó nằm ở phía tây bán đảo Iberia trên Đại Tây Dương và sông Tagus.
   Lisbon được công nhận là một thành phố toàn cầu bởi vì tầm quan trọng của nó trong tài chính, thương mại, phương tiện truyền thông, giải trí, nghệ thuật, thương mại quốc tế, giáo dục, và du lịch. Đây là một trong những trung tâm kinh tế lớn trên lục địa, với một phát triển trung tâm tài chính và các cảng lớn nhất chứa lớn nhất/thứ hai trong các "bờ biển Đại Tây Dương Châu Âu", sân bay Portela Lisbon phục vụ khoảng 13 triệu hành khách mỗi năm, đường cao tốc mạng và trung tâm của đường sắt cao tốc (Alfa Pendular) liên kết các thành phố chính trong Bồ Đào Nha, và vào năm 2013 có kết nối đường sắt cao tốc với Tây Ban Nha. Lisbon được bầu là thành phố sống tốt thứ 25 trên thế giới theo tạp chí lối sống Monocle. Thành phố đông du khách thứ 7 ở miền Nam châu Âu, sau Istanbul, Roma, Barcelona, Madrid, Athens, và Milano, với 1.740.000 lượt khách năm 2009. Vùng Lisbon là khu vực giàu có ở Bồ Đào Nha, GDP PPP bình quân đầu người là 26.100 euro (4,7% cao hơn so với châu Âu trung bình Liên minh của GDP PPP trên đầu người). Đây là vùng đô thị giàu có thứ 10 tính theo GDP trên lục địa lên đến 98 tỷ euro và do đó đạt mức 34.850 euro bình quân đầu người. Mức này là 40% cao hơn của trung bình của GDP bình quân đầu người của Liên minh châu Âu. Thành phố này chiếm vị trí 32 của thu nhập tổng cao nhất trên thế giới. Hầu hết các trụ sở của các công ty đa quốc gia trong nước nằm trong khu vực Lisbon và nó là thành phố thứ chín trên thế giới về số lượng các hội nghị quốc tế. Thành phố cũng là trung tâm chính trị của đất nước, là thủ phủ của Chính phủ và cư trú của người đứng đầu Nhà nước, thủ phủ của huyện Lisbon và là trung tâm của khu vực Lisbon.
   Lisbon được vinh danh là điểm đến hàng đầu thế giới về những kì nghỉ ngắn trong thành phố (World’s Leading City break destination). Thành phố hấp dẫn khách du lịch bởi văn hóa lịch sử và hoạt động giải trí, phương tiện hiện đại hòa quyện rất hài hòa. Thời tiết cũng là một yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của Lisbon với 290 ngày nắng trong năm và nhiệt độ không thấp hơn 15 độ C. Những sản phẩm du lịch nổi bật của Lisbon như du lịch văn hóa (tham quan di tích văn hóa lịch sử, thưởng thức âm nhạc truyền thống (Fado) tại các quán bar, nhà hàng và ẩm thực truyền thống); du lịch biển và tắm nắng (bãi biển dài, các bể bơi riêng, bãi cỏ trong công viên); du lịch thiên nhiên và thể thao mạo hiểm (công viên, khu bảo tồn thiên nhiên, leo núi, đu dây mạo hiểm – abseiling).

nctd-mai-2018-rotterdam

   Rotterdam, thành phố ở Tây Nam Hà Lan, thành phố lớn nhất ở tỉnh Nam Hà Lan (Zuid-Holland), cảng lớn thứ hai thế giới, là một thành phố cảng gần Sông Maas, gần thành phố Den Haag. Được tuyên bố thành lập năm 1328, Rotterdam ngày nay là một trong những hải cảng lớn của thế giới. Rotterdam là trung tâm ngoại thương chính của Hà Lan cũng như quận Ruhr công nghiệp hoá cao độ của Đức, thành phố Rotterdam được trực tiếp nối với Sông Rhine có tầm quan trọng thương mại. Cảng Rotterdam lớn nhất châu Âu và lớn thứ nhất thế giới từ năm 1962 nhưng năm 2004 đã bị cảng tại Thượng Hải đoạt lấy danh hiệu này. Một con kênh nước sâu với tên gọi Đường thủy mớiđược mở ra năm 1872, được tạo ra từ (1866-1890) cho phép tàu biển tải trọng lớn đi vào từ Biển Bắc. Con kênh này và sự mở mang thương mại đã tạo ra sự bùng nổ về phát triển kinh tế của thành phố cuối thế kỷ 19. Europoort, một khu bến cảng lớn tại phía Tây của con kênh đã được xây thập niên 1960 chủ yếu dành cho việc bốc dỡ và chứa dầu từ những tàu chở dầu lớn. Các cơ sở kinh tế khách như các nhà máy lọc dầu, các nhà máy đóng tàu, các nhà máy sản xuất hoá chất, kim loại, đường ăn tinh chế nằm ở bờ Nam của Sông Maas tại Rotterdam. Các mặt hành xuất khẩu bao gồm than đá, máy móc, sản phẩm sữa. Các mặt hành nhập khẩu chính có dầu mỏ, quặng và ngũ cốc. Phần lớn thành phố và cảng cũ Rotterdam đã bị phá huỷ bởi bom oanh tạc trong Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945), và thành phố hiện đại, có quy hoạch đã được xây dựng từ khi kết thúc chiến tranh. Khu vực trung tâm dân cư và thương mại chính của Rotterdam toạ lạc bên bờ Bắc của Sông Maas. Dân số năm 2003 là 599.651 người. Phía Tây của Coolsingel, đường phố lớn chính là một khu phố mua sắm rộng rãi với tên gọi Lijnbaan, chỉ mở cửa cho người đi bộ. Thành phố có Bảo tàng Boymans-van Beuningen (1847) nổi tiếng và Đại học Erasmus Rotterdam (1973), Vườn Động vật Blijdorp. Rotterdam hiện nay nổi bật là điểm đến du lịch với nhiều công trình kiến trúc hiện đại thu hút khách du lịch tới đây đi các city-tour tham quan các công trình, bảo tàng, triển lãm. Bên cạnh đó, với lợi thế là trung tâm kinh tế, tài chính, du lịch mua sắm ở Rotterdam là điểm nhấn quan trọng, khách du lịch có thể tới đây mua sắm 7 ngày trong cả tuần (thông thường các thành phố của Châu Âu đều đóng cửa hàng vào ngày chủ nhật). Những hoạt động vui chơi giải trí về đêm (night life) và sự kiện, lễ hội văn hóa cũng là điểm thu hút khách ở Rotterdam. Một điểm đặc biệt của du lịch Rotterdam là các hoạt động vui chơi dành cho trẻ em tại các bảo tàng, điểm tham quan để thành phố trở thành điểm đến thân thiện cho cả gia đình.

nctd-mai-2018-Turin

   Turin là một thành phố kỹ nghệ quan trọng tại tây bắc của Ý. Torino là thủ phủ của Piemonte và nằm cạnh sông Po. Torino đã đăng cai Thế vận hội mùa đông 2006. Turin là một điểm đến du lịch khác biệt: nó là biểu tượng thành phố của ngành công nghiệp ô tô Ý, một thành phố gắn liền với truyền thống của nó là cái nôi của Risorgimento Ý. Tuy nhiên, du khách quyết định đến Turin bị thu hút bởi nhiều giá trị văn hoá, có được trải nghiệm du lịch đặc biệt. Chính quyền thành phố đã nhận ra tầm quan trọng của tiềm năng này và đã thực hiện một số sáng kiến về dịch vụ cung cấp du lịch. Giờ đây, Turin đã tìm kiếm một vị trí được xác định rõ ràng trong các hành trình văn hoá Châu Âu. Turin phát triển mạnh nhất các dòng sản phẩm du lịch văn hóa và truyền thống, ẩm thực và rượu, sự kiện văn hóa và chương trình âm nhạc, mua sắm và chợ truyền thống. Việc tổ chức lại gần đây của văn phòng du lịch thành phố được cho là cơ sở khởi đầu tốt để tạo ra thái độ tích cực hơn giữa người dân và du khách.
Cuối cùng là Lyon (Pháp) – một thành phố có nhiều di sản văn hoá giá trị. Vào năm 1999, trung tâm thành phố cũ - bao gồm các yếu tố La Mã, Trung Cổ và thế kỷ 18 - đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Ngoài ra, Lyon còn có các thuộc tính khác: một nền kinh tế mạnh, có thể trở thành điểm đến cho du lịch công vụ; rượu vang và nền ẩm thực hấp dẫn, có thể được coi là số một ở Pháp; các cơ sở văn hoá quan trọng lớn và cơ sở hạ tầng công cộng hiện đại.

nctd-mai-2018-Lyon

   Lyon là thành phố ở phía Đông Nam nước Pháp, là nơi hợp lưu của hai con sông là sông Rhône và sông Saône. Lyon là tỉnh lỵ của tỉnh Rhône, thuộc vùng hành chính Auvergne – Rhône - Alpes của nước Pháp. Trong tiếng Pháp người dân Lyon được gọi là Lyonnais. Lyon nằm về phía bắc của thung lũng vùng Rhône (trải dài từ Lyon tới Marseille). Nằm giữa khối núi trung tâm ở phía Tây và khối núi Alpes ở phía Đông, thành phố Lyon nắm giữ một vị trí chiến lược trong giao thông Bắc-Nam ở châu Âu. Lyon cách Paris 470 km, cách Marseille 320 km, cách Genève 160 km, cách Torino 280 km và Barcelona 630 km. Vào thời La Mã, Lyon là thủ đô của vùng Gaule, và là nơi đặt hành dinh của tòa tổng Giám mục. Từ thời Trung Cổ, Lyon trở thành một trung tâm hội chợ, và nắm giữ một vị trí hàng đầu về kinh tế - tài chính từ thời kì Phục Hưng cho tới cuối thế kỉ 19. Sự thịnh vượng về kinh tế của Lyon được mang tới nhờ sự độc quyền trong sản xuất lụa, và sự xuất hiện của những ngành công nghiệp tiêu biểu như dệt và hóa chất. Vì vậy, Lyon hấp dẫn với khách du lịch muốn có chuyến nghỉ dưỡng ngắn tại thành phố hoặc một kỳ nghỉ cuối tuần dài. Lyon có thế mạnh về sản phẩm du lịch văn hóa lịch sử, và đặc biệt là du lịch ẩm thực bởi đây được coi là “thủ đô ẩm thực” của nước Pháp với nhiều nhà hàng cao cấp đạt sao Michelin, nhà hàng truyền thống và ẩm thực đường phố, cùng với rượu vang của vùng Beaujolais and Burgundy, Côtes du Rhône.
   1. Chiến lược
   Ngoại trừ Lisbon, các thành phố khác đều không có truyền thống về phát triển du lịch. Gần đây, du lịch bắt đầu được coi là ưu tiên trong chiến lược phát triển địa phương, như là một phương tiện để đa dạng hóa nền kinh tế. Trên thực tế, tất cả các trường hợp được phân tích đều là các thành phố có lịch sử là các trung tâm công nghiệp và/hoặc cảng, đã trải qua một số giai đoạn của cuộc khủng hoảng cơ cấu trong hoạt động.
Rotterdam chủ yếu dựa vào du lịch như một chiến lược tái tạo. Lyon vẫn còn nhiều khó khăn để xác định tầm nhìn rõ ràng về tương lai của mình như là một điểm đến du lịch, bất chấp sự đa dạng hóa và quảng bá văn hoá của mình thành công nhờ vào các Di sản Thế giới của thành phố. Turin đang ở các giai đoạn phát triển ban đầu là điểm đến cho du lịch văn hoá.
   2. Thông tin và lòng hiếu khách
   Về thông tin cho khách du lịch, mỗi thành phố trong bốn điển hình nghiên cứu đều có những hạn chế. Cả Lisbon và Rotterdam đều không chú ý tới chất lượng của các tài liệu cung cấp thông tin cho khách du lịch. Lyon đã cung cấp một số dịch vụ thú vị để phục vụ khách hàng tốt hơn, như sử dụng sinh viên để cung cấp thông tin, đầu tư vào các thiết bị đầu cuối tại các điểm tham quan đông đúc nhất, hoặc sắp đặt màn hình kỹ thuật số thông báo cho du khách và người dân về các sự kiện văn hoá hiện tại. Hơn nữa, du khách được truy cập Internet miễn phí tại văn phòng du lịch; theo cách này họ có thể xây dựng 'hành trình' riêng của mình''. Tại Lisbon, hệ thống thông tin không đáp ứng được số lượng lớn các điểm du lịch hiện tại, do đó một chiến dịch đã được xây dựng để thông tin cho khách du lịch thông qua mạng lưới các kiosk đã rất thành công. Văn phòng du lịch cung cấp miễn phí một cuốn sách nhỏ, thân thiện và đa ngôn ngữ, chỉ dẫn các hành trình và điểm tham quan chi tiết.
   3. Dịch vụ và sản phẩm du lịch bổ trợ
   Khách sạn và nhà hàng ở Lyon cung cấp các dịch vụ chất lượng cao với giá thành cao. Mặc dù ở những vị trí khá thuận tiện, các nhà hàng địa phương ở Lisbon và Turin khá nghèo nàn về dịch vụ bổ sung. Khách sạn ở Rotterdam rất đắt và dịch vụ trong khách sạn và nhà hàng có chất lượng chỉ trung bình. Có rất nhiều quán bar và các cửa hàng giải trí khác ở bốn thành phố, nhưng ở Rotterdam - nơi đô thị khá thưa thớt – khó tìm thấy. Cơ sở hạ tầng cho hội nghị và triển lãm rất xuất sắc tại Lisbon (đặc biệt là các khoản đầu tư cho EXPO '98), tại Lyon và Turin, Rotterdam khá tụt hậu.
   4. Khả năng tiếp cận nội thành và từ bên ngoài
   Hệ thống giao thông công cộng ở bốn thành phố nói chung khá tốt. Lyon có mạng lưới giao thông công cộng tốt nhất, nhưng sự liên kết không hoàn hảo và các liên kết với các thiết bị đầu cuối chính không được tổ chức tốt. Tại Lisbon, mạng lưới giao thông đa dạng và tương đối rẻ; tuy nhiên, một số cải tiến có thể được thực hiện để nâng cao chất lượng dịch vụ. Rotterdam thì khá chậm trễ trong việc phát triển hệ thống vận chuyển đến các điểm du lịch hấp dẫn một cách nhanh chóng, không tạo ra được nhiều liên kết cho dịch vụ cung cấp cho khách du lịch trong khu vực đô thị; hơn nữa, việc sử dụng xe taxi thường gây lúng túng cho du khách nước ngoài. Thành phố hiện đang chờ đón một ga đường sắt mới (sẽ sẵn sàng trong vòng 10 năm tới) để tổ chức lại một khu vực có tầm quan trọng trong đón tiếp du khách, nơi là cửa ngõ vào trung tâm thành phố. Turin thiếu một cơ sở hạ tầng giao thông như ở các khu vực thành thị tương đương. Việc tiếp cận tới thủ đô công nghiệp của Ý đang gây khó khăn cho khách du lịch, và mối liên kết giữa các điểm đầu cuối khác nhau là rất kém, ngay cả khi đã có một số cải tiến đã được chú ý trong vận tải du lịch. Có thể đánh giá Turin, Lisbon và Rotterdam là những thành phố có khả năng tiếp cận tốt hơn với các sự kiện và điểm tham quan.
   5. Điểm tham quan và các sự kiện
   Lisbon là nơi có nhiều điểm tham quan văn hóa hấp dẫn đối với khách quốc tế, nhưng Turin cũng vậy. Lyon và Rotterdam thì lại thiếu một điểm tham quan “bán chạy” độc đáo và dễ nhận biết mà du khách có thể nhận biết ngay về thành phố (như Tháp Eiffel hoặc Tháp Luân Đôn), ngay cả khi Lyon có thể nâng cao nhận thức của du khách về nó như là một thành phố của Di sản thế giới. Tuy nhiên, nếu Rotterdam quyết định đầu tư vào các nguồn lực chính, đó là cảng và phát triển bờ sông, nó sẽ có một cơ sở hạ tầng du lịch hấp dẫn đáng chú ý. Hơn nữa, sự đầu tư đáng kể của Rotterdam vào văn hoá và các sự kiện đặc biệt đã có hiệu quả nếu so sánh với những thành tựu gần đây của Lyon và tạo ra lợi nhuận đáng kể về vị thế của nó như là Thủ đô Văn hoá Châu Âu năm 2001.
   6. Hình ảnh và bầu không khí
   Lisbon có một hình ảnh rất tốt trong mắt khách du lịch và đã thành công trong việc tạo nền móng để giữ được lợi thế này trong tương lai, thoát khỏi hình ảnh chỉ là một thành phố của văn hoá dân gian địa phương bằng cách đầu tư vào cơ sở hạ tầng hiện đại và đa chức năng. Mặt khác, hình ảnh du lịch của Lyon và Rotterdam lại không tích cực. Những thành phố này được đánh giá tích cực vì tính năng động và chất lượng cuộc sống mà người dân của họ hưởng được, nhưng không thể tạo dựng hình ảnh trở thành những địa điểm du lịch, ngay cả khi một số cải tiến đáng mong đợi từ việc đặt tên của Lyon là "Di sản Thế giới" và của Rotterdam là "Thủ đô Văn hoá của Châu Âu" vào năm 2001. Hình ảnh của Turin không khác gì hình ảnh của nhiều thành phố công nghiệp khác, bất chấp sự giàu có văn hoá và truyền thống tuyệt vời của nó. Không ai thích bầu không khí tại đây, nó không có được bầu không khí thân thiện mà người ta cảm thấy ở Lisbon, bất chấp những nỗ lực quảng bá và đầu tư lâu dài.
Tội phạm ở bốn thành phố không phải là một vấn đề đặc biệt. Du khách cảm thấy an toàn hơn ở Lyon và Turin, mặc dù những sự kiện tội phạm nhỏ gần đây (2001) được công bố rộng rãi có thể làm ảnh hưởng tới hình ảnh hiện tại của họ. Turin và Lyon cung cấp một không gian xanh lớn hơn. Mặt nước rất quan trọng ở cả bốn thành phố, họ đều có đại dương, sông, bến cảng hoặc kênh rạch, có thể tiếp cận và thu hút du khách, vì vậy mà ngay cả Rotterdam cũng có thể sử dụng sự phong phú trong lĩnh vực này.
   Bài học kinh nghiệm rút ra từ các nghiên cứu điển hình của 4 thành phố tại Châu Âu:
   - Thứ nhất, những giá trị “mềm” của sản phẩm du lịch chính và bổ trợ, cùng với khả năng tiếp cận nội địa tới các điểm đến trong thành phố là rất quan trọng để phát triển du lịch hiệu quả. Điều này thực sự đúng với trường hợp của Lisbon, một thành phố mà đã từng phụ thuộc vào sự tuỳ biến, nhưng trong sự kiện EXPO 98 đã được xác định để xây dựng chức năng hiếu khách của nó một cách chuyên nghiệp hơn. Đối với Lyon và Rotterdam, những thành phố với rất nhiều tiềm năng phát triển du lịch, nhưng hầu như không thể khai thác được vì khả năng tiếp cận nội địa trong thành phố cho khách du lịch không được tổ chức một cách hoàn hảo. Điều này cũng đúng đối với trường hợp của Turin, thành phố này vẫn chưa quyết định được những cơ hội của họ để phát triển.
   - Sự thân thiện với với khách du lịch cũng như sự hiếu khách là yếu tố quan trọng giữ chân du khách. Một thẻ du lịch được phân phối tại Lisbon là một ưu đãi cho khách du lịch đến thăm các điểm tham quan mà có thể đã không nằm trong hành trình của họ, điều này có tác động đáng kể đến thời gian lưu trú trung bình. Trường hợp của Lisbon cũng minh hoạ rằng thái độ tích cực của dân chúng đối với khách du lịch có thể bù đắp cho những sai sót trong việc thực hiện sự hiếu khách. Vì vậy, những hạn chế này có thể được điều chỉnh một cách dễ dàng khi các bên đều có chung một tầm nhìn về những cơ hội hiện tại cho thành phố và cách khai thác các tiềm năng thông qua việc tổ chức các trải nghiệm du lịch chất lượng cao. Chiến dịch thông tin đó đã thuyết phục người dân về những lợi ích của EXPO '98 mang lại và là một dấu hiệu của việc chính quyền thành phố tạo ra một sự nhất trí thực sự giữa các bên liên quan tại địa phương về phát triển du lịch.
   - Du lịch văn hoá và tâm linh là sản phẩm quan trọng đối với thị trường khách du lịch công vụ truyền thống và góp phần phát triển thị trường khách du lịch văn hoá. Như tại Turin, việc đi vào đón khách của các bảo tàng quan trọng, các trung tâm triển lãm đã đem lại những bước cải tiến đáng kể. Quyết định trùng tu lại Mole Antonelliana (có thể là điểm kiến trúc thực sự duy nhất của thành phố) trở thành Bảo tàng nghệ thuật và điện ảnh đã trở thành dấu hiệu tốt của một tầm nhìn dài hạn tiếp cận tới chủ nghĩa hậu hiện đại.
   - Thông tin dành cho khách du lịch phải đa dạng, dễ tiếp cận và hấp dẫn. Tại Lyon, từ việc đặt các kiosk thông tin du lịch được bố trí có tính toán, tới việc cung cấp số lượng lớn tờ rơi, tờ chương trình mà khách du lịch có thể tiếp cận 24/ngày đã đem lại hiệu quả không nhỏ cho việc cung cấp thông tin cho khách du lịch. Tất cả các thành phố đều chú trọng thông tin cho khách du lịch bằng việc tối đa hoá Internet, những kết quả tốt nhất đã đạt được bởi Lyon và Turin, trong khi Lisbon và Rotterdam cung cấp nhưng ở tiêu chẩn kém hơn. Học theo Lyon, các thành phố khác có thể thuê nhân viên trẻ để hỗ trợ khách du lịch. Lyon cũng thiết lập một hệ thống “quản lý du lịch” thuộc Phòng Thương mại là hệ thống quản lý thông tin hỗ trợ tự động giúp các doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định kinh doanh trong việc phát triển du lịch.
   - Quản lý phát triển đô thị tương thích với chính sách phát triển du lịch. Ví dụ như việc thiết kế hiệu quả của mạng lưới vận tải và tính hiệu quả của nó phụ thuộc vào sự quản lý lãnh thổ, dựa trên vùng đô thị hoặc tỉnh chứ không phải là theo các hội đồng thành phố. Nguyên tắc là tất cả các vấn đề lợi ích địa phương phải được quản lý bởi một cơ quan để các hoạch định không chỉ có giá trị để vận chuyển đơn thuần mà còn dành cho quản lý du lịch. Rotterdam đang trong nỗ lực thiết lập một chính quyền đô thị - vốn không bao giờ được ủng hộ do sự phản đối của các đô thị ngoại vi - nhằm tái tổ chức các mối quan hệ giữa các văn phòng du lịch trong khu vực.
   - Tính hiệu quả của việc hợp tác công tư trong phát triển du lịch. Trong trường hợp của chính quyền Rotterdam trong Liên doanh Waterstad (quản lý nước). Hợp tác này đã thực hiện được một chương trình chuyển đổi các khu vực cảng trong để tích hợp thành bến tàu phục vụ khách du lịch.

Tài liệu tham khảo:
Antonio P. Russo, Jan van der Borg. (2002). Case study: Planning consideration for cultural tourism: a case study of four European cities. Tourism management 23. 631 – 637.
https://ceopedia.org/index.php/Urban_tourism
https://about-france.com/cities/lyon.htm
https://www.visitlisboa.com/
https://www.cntraveller.com/gallery/lisbon-portugal-city-guide
https://en.rotterdam.info/

Hoàng Mai

nc-td-c.huong-2018-1   Chiến lược du lịch Thái Lan giai đoạn 2017 -2021 

   Tầm nhìn
   Đến năm 2036, Thái Lan sẽ là điểm đến chất lượng hàng đầu của Thế giới, thông qua phát triển cân bằng trong khi tận dụng các yếu tố văn hóa đặc trưng của người Thái góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và sự phân bố của cải toàn diện và bền vững.
   Mục tiêu
Mục tiêu đầu tiên là du lịch Thái Lan trở thành điểm đến du lịch chất lượng và tăng khả năng cạnh tranh của du lịch. Điểm đến du lịch chất lượng bao gồm điểm đến chất lượng cao, các dịch vụ du lịch tiêu chuẩn và giá trị gia tăng. Hiện tại, có một số nhãn hiệu chất lượng ở Thái Lan. Các mục tiêu trên 5 năm tới là khuyến khích tiêu chuẩn hóa nhiều hơn các điểm du lịch, kinh doanh du lịch, sản phẩm và dịch vụ, từ đó, tăng cường khả năng cạnh tranh du lịch cao hơn. Cụ thể:
Số lượng điểm đến / doanh nghiệp cấp nhãn chất lượng: tăng ít nhất 5% mỗi năm;
Chỉ số cạnh tranh về du lịch lữ hành (TTCI): trở thành một trong 30 quốc gia hàng đầu trên thế giới hay đứng trong tốp 7 APAC
Mức độ tin tưởng trong các sản phẩm du lịch và dịch vụ vượt qua hoặc tương đương 90%.
Mục tiêu thứ hai là du lịch Thái Lan có thể tăng giá trị kinh tế với sự cân bằng và tính bền vững. Nhằm mục đích tạo ra sự cân bằng giữa du lịch quốc tế và trong nước, cũng như sự cân bằng xuất xứ của du lịch. Sự tăng trưởng cân bằng sẽ đảm bảo khả năng phục hồi của ngành du lịch Thái Lan, đó là điều cần thiết để duy trì sự tăng trưởng trong bối cảnh toàn cầu năng động. Mục tiêu trong 5 năm tới là duy trì thu nhập du lịch quốc tế tăng trưởng hợp lý, đồng thời khuyến khích du lịch trong nước nhiều hơn. Cụ thể
Doanh thu từ du lịch quốc tế tăng ít nhất 10% hàng năm;
Số lượng du lịch nội địa (người – thời gian) tăng ít nhất 3% hàng năm
Mục tiêu thứ ba là du lịch Thái Lan có thể phân phối thu nhập và lợi ích một cách toàn diện trên phạm vi toàn quốc. Mục đích là để cân đối khách du lịch tại các điểm đến và thời gian tham quan để cân đối và hỗ trợ tốt hơn tạo thu nhập du lịch ở các khu vực đặc biệt vùng sâu, vùng xa.
Tỷ lệ khách du lịch quốc tế đi du lịch Thái lan từ tháng 6 đến tháng 9 có thể bằng hoặc hơn 1/3 tổng số chuyên du lịch hàng năm;
Tổng thu từ du lịch tại các tỉnh cấp 2 (dưới 1 triệu khách/năm) tăng ít nhất 12% hàng năm
Mục tiêu cuối cùng là du lịch Thái Lan để có thể phát triển bền vững theo nguyên tắc của người Thái và bền vững về môi trường. Mục tiêu này nhằm mục đích thúc đẩy tăng trưởng bền vững, văn hóa bền vững và bền vững về môi trường. Nó thúc đẩy bảo tồn văn hóa Thái để tăng thêm giá trị cho dịch vụ du lịch hiện tại. Đồng thời, nó củng cố tăng trưởng du lịch mà không ảnh hưởng đến tính bền vững của thiên nhiên. Do đó, các mục tiêu đặt ra mục tiêu định lượng để đo lường hiệu quả sự gia tăng nhận thức về văn hóa và mức độ bền vững về môi trường. Cụ thể:
Chỉ số nhận biết văn hóa Thái đối với khách du lịch quốc tế và nội địa tăng hàng năm;
Nhu cầu số hóa du lịch giải trí và văn hóa (TTCI): trở hành một trong 10 quốc gia hàng đầu trên thế giới.
Tổng hợp chỉ số bền vững về môi trường được cải thiện, xếp thứ 10 trong mỗi chỉ số.

 nc-td-c.huong-2018-2

Chiến lược 1: Phát triển các điểm đến, sản phẩm và dịch vụ du lịch bao gồm việc khuyến khích tính bền vững, thân thiện với môi trường và hài hòa tính hấp dẫn với văn hóa Thái
Chiến lược này tập trung vào việc cải thiện các thành phần cốt lõi của du lịch là các điểm tham quan, sản phẩm và dịch vụ du lịch. Dịch vụ du lịch phải đạt tiêu chuẩn được quốc tế chấp nhận và có các giá trị duy nhất phân biệt chúng với các điểm du lịch khác. Việc phát triển các dịch vụ du lịch nên được thực hiện theo cách thân thiện với môi trường và cân bằng về địa điểm, thời gian và phân khúc thị trường du lịch. Những yếu tố này đảm bảo sự phát triển sẽ có khả năng lan tỏa cơ hội, thu nhập và sự giàu có trên toàn quốc.
Chiến lược 2: Phát triển và cải thiện cơ sở hạ tầng và các trang thiết bị hỗ trợ mà không gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến cộng đồng địa phương và môi trường
Chiến lược này tập trung phát triển cơ sở hạ tầng và các cơ sở cần thiết để hỗ trợ sự phát triển của ngành du lịch. Tập trung vào các tiện ích của phương tiện giao thông, cơ sở hạ tầng và các tiện nghi dành cho khách du lịch, đảm bảo an toàn và an ninh và vệ sinh cho khách du lịch.
Chiến lược 3 Phát triển tiềm năng nguồn nhân lực du lịch và phát triển sự nhận thức về du lịch giữa cộng đồng người Thái
Chiến lược này tập trung vào phát triển nguồn nhân lực du lịch thông qua việc đào tạo có hệ thống và cải tiến chất lượng nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Những nỗ lực để phát triển nguồn nhân lực cần có sự hợp tác công tư chặt chẽ để đảm bảo chất lượng và kỹ năng đạt được phù hợp với nhu cầu của thị trường. Chiến lược này cũng khuyến khích lòng hiếu khách của người Thái thông qua việc tăng cường nhận thức cho tất cả công dân Thái Lan và chủ động cộng tác với cộng đồng địa phương.
Chiến lược 4: Tạo sự cân bằng giữa các thị trường khách du lịch mục tiêu qua việc tiếp thị có trọng tâm nhấn mạnh vaof văn hóa Thái và tạo sự tin tưởng đối với khách du lịch
Chiến lược này tập trung vào việc cải thiện thương hiệu của Thái Lan là điểm đến chất lượng. Điều này liên quan đến việc giúp du lịch Thái Lan phát triển với sự cân bằng và chất lượng thông qua việc sử dụng các phương thức tiếp thị hiệu quả và có mục tiêu cùng với việc thiết lập và phổ biến chất lượng quốc gia trên cơ sở văn hóa Thái. Chiến dịch tiếp thị mục tiêu theo chiến lược này cũng sẽ được đưa ra như một phương pháp để khuyến khích du khách quốc tế chi tiêu nhiều hơn và thu hút khách du lịch trong nước nhiều hơn. Công nghệ sẽ được tích hợp để nâng cao năng lực và hiệu quả của các nỗ lực tiếp thị và tạo ra ấn tượng cho khách du lịch tiềm năng.
Chiến lược 5: Tổ chức hợp tác và hội nhập giữa các các khối công, tư và các tổ chức khác trong việc phát triển và quản lý du lịch bao gồm cả hợp tác quốc tế.
Chiến lược này tập trung vào việc thúc đẩy hoạt động hợp tác và phát triển tích hợp giữa tất cả các bên liên quan. Điều này liên quan đến việc tăng cường quản trị, điều chỉnh luật và quy định liên quan và quản lý thông tin du lịch, theo thứ tự để hỗ trợ phân tích hiệu quả hơn và lập kế hoạch phát triển. Chiến lược này cũng đề cập đến công khai và riêng tư cộng tác và hợp tác quốc tế như một yếu tố quan trọng khác cho sự thành công của phát triển du lịch.

Kế hoạch phát triển du lịch năm 2018

Chính sách:
+ Du lịch bền vững với chất lượng và giá trị gia tăng (cân bằng kinh tế, xã hội và môi trường)
+ Phân chia công bằng
+ Tự hào về di sản địa phương
(hợp tác giữa khối nhà nước, khối tư nhân và cộng đồng địa phương)
+ Chất lượng:
Tăng chi tiêu đầu người và thời gian lưu trú
Hạn chế sử dụng tài nguyên tự nhiên
Không tập trung vào số lượng
Tổng thu từ du lịch: (nghìn tỷ Baht)

2015

2016

2017

2,2

2,5

2,7 (80 tr USD)



nc-td-c.huong-2018-3

Thúc đẩy thị trường du lịch:
Thay đổi hình ảnh thành “Điểm đến giải trí chất lượng”
Cấu trúc lại đối với thị trường có giá trị cao
Du lịch cộng đồng
Cân bằng tính mùa trong du lịch theo khu vực và hoạt động du lịch.
Về phát triển sản phẩm
Căn cứ theo khu vực:
8 cụm du lịch: Andaman, Lanna culture, South I-san, Cultural World heritage, Active beach, Royal Coast, Chao Phraya River, Khong River
12 tỉnh trọng tâm (land of smile): Lampang, Phetchabun, Nan, Buriram, Loei, Samut Songkhram, Ratchaburi, Trat, Chanthaburi, Trang, Chumphon and Nakhon Si Thammarat
12 tỉnh bổ trợ: Lamphun, Nakhon Si Thammarat, Chanthaburi, Sakaeo, Rayong, Trat, Satun, Trang, Suphan Bủi, Ratchaburi
Căn cứ theo chủ đề, loại hình du lịch: Du lịch y tế và chăm sóc sức khỏe, du lịch người cao tuổi, du lịch MICE, du lịch tàu biển và đường sông, điểm đến thân thiện của khách hồi giáo.
Phát triển CSHT và CSVCKT du lịch
Các giải pháp an toàn
Phát triển dịch vụ hỗ trợ hậu cần
Quản lý du lịch:
Hợp tác
Phát triển nhân lực và các công ty du lịch lữ hành
Xây dựng cổng thông tin điện tử, website du lịch Thái và các trung tâm thông tin du lịch
Tăng cường luật du lịch.
Các nhóm sản phẩm chính:
du lịch thể thao, ẩm thực, du lịch tuần trăng mật, du lịch y tế và chăm sóc sức khỏe, tàu biển, kết nối ASEAN, sự kiện văn hóa, du lịch xanh, du lịch về đêm, du lịch giải trí, cộng đồng, MICE, du lịch đại chúng, hoạt động marketing B2B, hậu cần, các hoạt động khác.

nc-td-c.huong-2018-4

- Lập kế hoạch lịch sự kiện cho các hoạt động du lịch theo các phân khu:

nc-td-c.huong-2018-5


- Đối với du lịch y tế và chăm sóc sức khỏe: cơ chế gia hạn visa theo từng đối tượng

nc-td-c.huong-2018-6   nc-td-c.huong-2018-7


- Đối với du lịch thể thao : Tạo điều kiện đi lại thuận loại với nhiều hình thức: thẻ vận chuyển phổ thông, các tuyến xe, tàu vận chuyển khách du lịch và đặc biệt là hiện đại hóa hình thức vận chuyển hàng không

nc-td-c.huong-2018-8

- Tăng cường vấn đề an ninh an toàn: Tăng về số lượng và chất lượng. Tăng cường kiểm soát quản lý thông qua hệ thống tự động.

nc-td-c.huong-2018-9   nc-td-c.huong-2018-10

- Mở rộng hoạt động của các trung tâm hỗ trợ du khách với hệ thống camera hiện đại.

nc-td-c.huong-2018-11  nc-td-c.huong-2018-12 


- Tăng cường các giải pháp an toàn đặc biệt với các chương trình du lịch trong khu vực Vườn quốc gia và khu bảo tồn
- Đầu tư phát triển nguồn nhân lực: tập trung đào tạo HDV với 7 ngôn ngữ chính, với các chương tình Amazing Thai Host tập trung vào nâng cao năng lực của cộng đồng địa phương với các đối tượng là người cao tuổi và người trẻ tuổi.
- Phát triển hệ thống du lịch số thông qua trung tâm du lịch thông minh: Tourism Intelligence Centre.

nc-td-c.huong-2018-13

Tài liệu tham khảo:
1. Second National Tourism Development Plan 2017 -2021, Ministry of Tourism and Sport Thailand,
2. Tourism Plan 2018, H.E. Mrs. Kobkarn Wattanavrangkul
Minister of Tourism and Sports

Lan Hương

nc-td-c.huong-2018   Các chính sách và chiến lược phát triển du lịch cũng được lên kế hoạch thông qua Kế hoạch 5 năm của Malaysia. Trong một nỗ lực để củng cố và thúc đẩy ngành du lịch phát triển ngang bằng với các điểm đến quốc tế khác. Do đó, chiến lược được xem là có ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch phát triển du lịch như là cơ sở và hướng dẫn trong sự phát triển của ngành du lịch, cũng như phát triển khái niệm điểm du lịch thân thiện tại Malaysia. Ngoài ra, giá trị gia tăng của ngành du lịch cũng chịu trách nhiệm trong Chương trình chuyển đổi kinh tế (ETP), thông qua Khu vực kinh tế trọng điểm quốc gia (NKEA) về Du lịch, để tiếp tục thúc đẩy đất nước hướng đến việc phát triển hơn nữa và tạo ra thu nhập cao vào năm 2020.
Chiến lược du lịch Malaysia
   + Chiến lược tập trung giải quyết ba thách thức cơ bản:
   + Nâng cao khả năng tiếp cận điểm đến của khách du lịch;
   + Đảm bảo khách du lịch có có trải nghiệm chất lượng cao nhất;
   + Hỗ trợ các khu vực để đáp ứng và hưởng lợi từ việc tăng số lượng khách đến.
   Một chiến lược tốt không chỉ được thiết kế để giúp ngành thu hút du khách và nguồn đầu tư có giá trị cao, không chỉ cho các điểm nóng du lịch trong mùa cao điểm, mà còn cho các khu vực khác trong suốt cả năm.
   Bối cảnh chung
   Du lịch đã trở thành một trong những thành phần kinh tế và các hoạt động xã hội quan trọng nhất. ngày nay, Du lịch đã đóng góp trực tiếp 5% vào GDP của thế giới và là 1 trong 12 nhóm ngành quốc tế toàn cầu đồng thời cũng là một trong những nhóm ngành xuất khẩu ở cả các nước phát triển và đang phát triển.
   Một số định hướng du lịch toàn cầu có ảnh hưởng đối với du lịch Malaysia:
- Tăng trưởng toàn cầu trong khách du lịch quốc tế sẽ tiếp tục, nhưng với tốc độ vừa phải hơn
- Khách du lịch quốc tế sẽ tăng trung bình 43 triệu mỗi năm giữa năm 2010 và 2030
- Khách du lịch quốc tế sẽ đạt con số 1.8 tỷ năm 20130
- Lượng khách quốc tế đến các điểm đến có kinh tế mới nổi dự kiến sẽ vượt qua các điểm đến có kinh tế tiên tiến từ năm 2015
- Số lượng khách quốc tế đến tại các nền kinh tế mới nổi vẫn còn khiêm tốn so với quy mô dân số của họ
- Châu Á và Thái Bình Dương sẽ thu hút hầu hết lượng khách đến
- Nam Á sẽ là tiểu vùng có tốc độ tăng trưởng về lượng khách quốc tế nhanh nhất
- Đông Bắc Á sẽ là tiểu vùng được thăm quan nhiều nhất năm 2030
- Những khách đến trong tương lai sẽ được phân bổ đều hơn tại các điểm đến
   Xu hướng thay đổi ngành du lịch Malaysia – điểm đến hấp dẫn
   Malaysia tiếp tục được xếp hạng là một trong những điểm điến phổ biến nhất trên thế giới. Năm 2016, UNWTO tiếp tục xếp Malaysia là một trong 12 quốc gia nên đến thăm nhất trên thế giới.
Nhận diện các thách thức trong thời gian tới
- Sự hấp dẫn của điểm đến
- Sự đóng góp về mặt kinh tế của ngành du lịch
- Sự hạn chế về khả năng tiếp cận hàng không do những biện pháp hợp lý hóa của hãng hàng không quốc gia (MAS - Malaysia Airlines Berhad)
Quy hoạch và phát triển du lịch ở Malaysia được coi là quan trọng để Malaysia có thể tiếp tục cạnh tranh trong khu vực; đặc biệt là với các nước ASEAN khác. Mức độ quan trọng của sự phát triển du lịch của Malaysia có thể được nhìn thấy thông qua kế hoạch 5 năm thể hiện mọi khía cạnh của Malaysia; luôn nhấn mạnh du lịch là nguồn thu nhập quốc gia quan trọng. Theo đó, chiến lược phát triển du lịch ở Malaysia luôn được ban hành theo Kế hoạch 5 năm nên tất cả các kế hoạch du lịch đều đạt được.
Theo Kế hoạch chiến lược chuyển đổi ngành du lịch Malaysia (MTTP 2020) chiến lược bao gồm:
Tầm nhìn:
Xây dựng Malaysia trở thành một đất nước du lịch hàng đầu
Chính sách quốc gia về du lịch:
Phát triển ngành du lịch theo cách bền vững và tối đa hóa tiềm năng của du lịch như một ngành cơ bản và có sự tăng trưởng mới có thể tạo ra các hoạt động kinh tế và việc làm cho người dân Malaysia.
Chủ đề phát triển:
- Sự xa xỉ có thể chi phí được (Dịch vụ và sản phẩm cao cấp dành cho tất cả các đối tượng khách, VD du lịch mua sắm)
- Sự phiêu lưu trong tự nhiên (Phát triển sản phẩm du lịch mạo hiểm khai thác tài nguyên du lịch tự nhiên)
- Giải trí gia đình (Tập trung vào sản phẩm giải trí dành cho đối tượng khách là gia đình)
- Sự kiện, giải trí, chăm sóc sức khỏe và thể thao
- Du lịch kinh doanh (MICE)
   Du lịch đang xác định tiềm năng khu kinh tế trọng điểm quốc gia cho tầm nhìn đến năm 2020 trong chương trình du lịch trong chuyển đổi kinh tế (Tourism in Economic Transformation Program ETP). Malaysia đã xác định mục tiêu phát triển du lịch trong các giai đoạn của chương trình chuyển đổi này cụ thể : đón 36 triệu lượt khách du lịch và doanh thu du lịch đạt 168 tỷ RM vào cuối năm 2020. NKEA đã xác định 12 sáng kiến phát triển du lịch để đạt được mục tiêu cho năm 2020. 12 sáng kiến này được định nghĩa là các dự án điểm (EPPs – Entry point Projects) theo năm chủ đề để tăng cường ngành du lịch. EPPs sẽ kích thích tăng trưởng du lịch từ RM 36.9 tỷ trong GNI lên RM 103.6 tỷ trong GNI vào năm 2020 (Malaysia, 2010). Năm chủ đề và 12 EPP như sau:
   Chủ đề 1: Giá cả phải chăng
EPP 1: Định vị Malaysia là điểm đến mua sắm miễn thuế đối với hàng hóa du lịch: Giá hàng hóa nước ngoài là cao hơn ở Malaysia, hơn cả các nước láng giềng khác do thuế cao. Chính phủ Malaysia xác định phát triển đất nước là điểm đến mua sắm miễn thuế để thu hút khách du lịch nước ngoài. Bộ Du lịch sẽ triển khai EPP này phối hợp với Bộ Thương mại và Công nghiệp Quốc tế. Dự án này sẽ tăng hoạt động mua sắm của khách du lịch nước ngoài từ 28%/ năm 2009 lên 35% vào năm 2020. Tổng số việc làm sẽ được tạo ra khoảng 64.000 trong giai đoạn này.
EPP 2: Chỉ định khu vực trung tâm thành phố Kuala Lumpur-Bukit Bintang là khu mua sắm sôi động: Dự án này sẽ phát triển Trung tâm thành phố Kuala Lumpur (KLCC) đến khu vực Bukit Bintang thành một khu vực mua sắm hàng đầu tại Malaysia.
Dự án này đã phát triển các lối đi dành cho người đi bộ và phương tiện giao thông công cộng như đường sắt, dịch vụ xe buýt để tạo điều kiện thuận lợi khách du lịch. Bộ Du lịch sẽ phát triển dự án để tạo ra khoảng 14.500 việc làm mới.
EPP 3: Thành lập ba cửa hàng cao cấp mới tại Malaysia: Dự án này sẽ hỗ trợ du lịch Malaysia với kỳ vọng đây là một điểm đến mua sắm hàng đầu ở châu Á. Dự án này sẽ thiết lập các cửa hàng cao cấp ở ba địa điểm: Iskandar Malaysia, Sepang và Penang.
   Chủ đề 2: Phiêu lưu tự nhiên
EPP 4: Thiết lập Malaysia như một trung tâm đa dạng sinh học toàn cầu: Mục tiêu chính của dự án này là thu hút quốc tế chú ý đến đa dạng sinh học tuyệt vời của Malaysia, hỗ trợ du lịch có trách nhiệm và thúc đẩy quản lý bền vững tại các khu vực tự nhiên của đất nước. Dự án này bao gồm việc giới thiệu sự phong phú đa dạng sinh học của rừng nhiệt đới, môi trường sống nước ngọt và môi trường biển và hệ thực vật và động vật địa phương. Dự án này sẽ tiếp tục với ba sáng kiến chính nhằm phát triển Malaysia là điểm đến du lịch sinh thái hàng đầu thế giới, cung cấp dịch vụ tốt nhất, gói sản phẩm và sử dụng bền vững các nguồn lực và trao quyền cho cộng đồng nông thôn. Các Bộ Tài nguyên và Môi trường (NRE) và Bộ Du lịch sẽ làm việc cùng nhau.
   Chủ đề 3: Vui chơi gia đình
EPP 5: Phát triển khu nghỉ dưỡng tích hợp thiên nhiên sinh thái ở Sabah: Malaysia sẽ phát triển một môi trường sinh thái tích hợpkhu nghỉ mát ở Sabah trong dự án này. Dự án này sẽ đảm bảo phát triển xanh như các tòa nhà tiết kiệm năng lượng; sử dụng năng lượng tái tạo, tái chế và tiêu thụ năng lượng thấp góp phần thể hiện sự giàu có trong đa dạng sinh học của Sabah, rừng ngập mặn, du lịch sinh thái, du lịch trên sông, rừng mưa nhiệt đới và các nhà nghỉ thiên nhiên. Bộ Du lịch sẽ thực hiện hợp tác dự án này với Chính phủ bang Sabah. Dự án này sẽ tác động đến GNI dự kiến sẽ là 707 triệu RM với khoảng 8.000 việc làm được tạo ra vào năm 2020.
EPP 6: Tạo ra một eo biển Riviera: Malaysia sẽ phát triển năm nhà ga du lịch Penang, Sepang, Malacca, Tanjung Pelepas và Kota Kinabalu đẳng cấp thế giới nhằm mục đích để thu hút hành khách cũng như du khách quốc tế. Để đảm bảo sự thành công của Eo biển Riviera, Bộ Du lịch và BộGiao thông vận tải đã thành lập Hôi đồng Straits Riviera (Straits Riviera Council). Hội đồng này đã xây dựng và thực hiện kế hoạch chi tiết các cảng biển quốc gia và tuyến du hành. Dự án này sẽ tác động trong GNI dự kiến sẽ là 1,8 tỷ RM với khoảng 9.700 việc làm được tạo ra vào năm 2020.
   Chủ đề 4: Sự kiện, Giải trí, Spa và Thể thao
EPP 7: Nhắm mục tiêu nhiều sự kiện quốc tế hơn: Malaysia sẽ phát triển ba hoặc bốn sự kiện quốc tế nổi tiếng trong đất nước để thu hút khách du lịch sự kiện. Dự án này sẽ thiết lập một cơ quan sự kiện dành riêng cho Malaysia để xác định các sự kiện quốc tế mới cũng như phát triển một cụm sự kiện và đánh giá tác động của các sự kiện được lưu trữ. Điều này dự án sẽ tác động trong GNI dự kiến là 427 triệu RM với khoảng 8.000 việc làm được tạo ra vào năm 2020.
EPP 8: Thiết lập các khu giải trí chuyên dụng: Dự án này đã xác định năm thành phố của Malaysia bao gồm Greater Kuala Lumpur / Klang Valley, Genting Cao nguyên, Penang, Langkawi và Kota Kinabalu. Đây là những như vị trí tiềm năng dành riêng cho khu giải trí. Tác động dự kiến của dự án này sẽ là 0,7 tỷ RM GNI và khoảng 5.614 việc làm vào năm 2020.
EPP 9a: Phát triển chuyên môn địa phương và điều tiết tốt hơn ngành công nghiệp spa: Dự án này sẽ phát triển ba trung tâm xuất sắc trở thành các trung tâm đào tạo để xây dựng kỹ năng trị liệu địa phương trong ngành công nghiệp spa. Ba vị trí tiềm năng cho các trung tâm đào tạo bao gồm Kuala Lumpur / Klang Velley, Johor và Sabah. Bộ Du lịch, Bộ Y tế và Bộ Nhà ở và Chính quyền địa phương đã thiết lập Spa và Chăm sóc sức khỏe. Hội đồng quốc gia công nhận và đánh giá của các cửa hàng spa và chăm sóc sức khỏe. Tác động dự kiến của điều này dự án sẽ là RM0.4 tỷ trong GNI và khoảng 3.500 việc làm vào năm 2020.
EPP 9b: Mở rộng hoạt động du lịch thể thao ở Malaysia ngoài các sự kiện đã có: Malaysia đã cải thiện các môn thể thao du lịch bằng cách phát triển các môn thể thao, đặc biệt là du lịch golf. Malaysia có thể đạt khoảng 0,3 tỷ RM trong GNI và tạo ra 2.100 việc làm vào năm 2020 theo dự án này.
   Chủ đề 5: Du lịch kinh doanh
EPP 10: Xây dựng Malaysia là điểm đến của du lịch kinh doanh hàng đầu: Dự án này sẽ làm tăng doanh nghiệp du lịch từ 5% đến 8% vào năm 2020. Trong thời gian này khách du lịch kinh doanh đến sẽ đạt được trong 2,9 triệu. Tác động dự kiến của dự án này đến năm 2020 sẽ là 9,9 tỷ RM trong GNI và 16,700 việc làm bổ sung.
EPP 11: Tăng cường khả năng kết nối với các thị trường có mức độ ưu tiên trung bình: Úc, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc sẽ đóng góp hơn 90% khách du lịch đến từ các nước trung bình vào năm 2020. Malaysia sẽ tăng các chuyến bay hàng không tại mười thành phố chính của sáu quốc gia này; Bắc Kinh, Delhi, Melbourne, Mumbai, Osaka, Seoul, Thượng Hải, Sydney, Đài Bắc và Tokyo.
EPP 12: Cải thiện mức giá, sự kết hợp và chất lượng của các khách sạn: Dự án này sẽ giới Thuế suất đầu tư (ITA) nhằm khuyến khích và nâng cấp các khách sạn 4 và 5 sao có sở hữu nước ngoài. Bộ Du lịch sẽ triển khai hợp tác dự án với MIDA. Tác động dự kiến từ dự án này đóng góp của GNI của RM5.5 tỷ và 64.000 công việc được bổ sung.

   Bài học kinh nghiệm:
   - Cách thức thực hiện:
Chính phủ Malaysia (GOM) đã thông qua các kế hoạch phát triển cho thời hạn khác nhau để nâng cao phát triển bền vững trong nước. Phát triển du lịch là một trong những yếu tố then chốt cho mỗi sự phát triển của các kế hoạch. GOM đã đặc biệt chú trọng vào ngành du lịch trong suốt quá trình quy hoạch. Trên cơ sở đánh giá Kế hoạch lần thứ IX và Kế hoạch lần thứ 21 của Malaysia về phân tích phát triển du lịch. Hơn thế nữa, Malaysia cũng đã xây dựng Chương trình chuyển đổi kinh tế (ETP) năm 2010 để tăng cường phát triển kinh tế và du lịch hơn nữa trong nước và coi đây là một trong những lĩnh vực then chốt trong ETP.
Các tài liệu được sử dụng và tham khảo để xây dựng chiến lược phát triển bao gồm Chính sách Du lịch Quốc gia (NTP), Kế hoạch Vật lý Quốc gia (NPP) và Chương trình nghị sự địa phương 21 (LA 21) để xây dựng quan điểm phát triển du lịch.
+ Du lịch là ngành dịch vụ lớn nhất của Malaysia về thu nhập ngoại hối. Malaysia đã nhắm đến chiếm một vị trí trong 10 quốc gia trên thế giới về khách du lịch quốc tế. Để đạt được vị trí này, Malaysia nhấn mạnh vào việc thu hút khách du lịch phi Hồi giáo đến trong nước cũng như khách du lịch Hồi giáo.
+ Kế hoạch thứ 9 và thứ 10 của Malaysia đã được ưu tiên cao trong phát triển du lịch. Chính phủ Malaysia nhấn mạnh vào phát triển du lịch bền vững trong nước. Chính phủ thông qua và thực hiện các luật và quy định khác nhau để đảm bảo phát triển du lịch bền vững. Lưu trú và các hoạt động du lịch thân thiện với môi trường được khuyến khích trong lĩnh vực này.
+ Chính phủ đã thực hiện chính sách và quy định cần thiết cho phát triển du lịch bền vững. Chính phủ cũng nhấn mạnh đến du lịch phát triển khu vực rừng giải trí, vùng nước, vùng ven biển và những nơi phù hợp khác trên khắp cả nước. Mặc dù những thành tựu này, một số vấn đề cần được giải quyết, bao gồm cả nhu cầu phát triển du lịch sinh thái, du lịch thiên nhiên, du lịch văn hóa và các sản phẩm du lịch tiềm năng khác để thu hút khách du lịch.
+ Cơ hội chia sẻ lợi ích cộng đồng, thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển du lịch dựa vào khu vực là cần thiết để tăng cường ngành du lịch ở Malaysia. Chính phủ kêu gọi sự tham gia của tất cả các cơ quan liên đến phát triển quan du lịch trong lĩnh vực này.
+ Thực hiện các sáng kiến để có đủ nguồn nhân lực và tinh thần phát triển kinh doanh nhấn mạnh vào giáo dục và các hoạt động nghiên cứu có thể được phát triển du lịch như một động lực thúc đẩy khu vực kinh tế cho Malaysia.
+ Đối với chiến lược quảng bá, Các thị trường được phân khúc rõ ràng, mỗi phân đoạn thị trường có kế hoạch hành động riêng bám sát trục chiến lược đã được định hướng.
   Thành viên tham gia soạn thảo chiến lược
Nhóm tư vấn bao gồm các chuyên gia, giám đốc cấp cao về lập kế hoạch chiến lược, các chuyên gia trong các lĩnh vực truyền thông doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp, công nghệ thông tin, phát triển gói, quản lý nhân sự…

Tài liệu tham khảo
1. Malaysia Tourism Transformation Plan (MTTP) 2020 , http://cf.cdn.unwto.org/sites/all/files/pdf/malaysia_1.pdf.
2. Tourism Development in Malaysia from the Perspective of Development Plans, Md. Anowar Hossain Bhuiyan1,2, Chamhuri Siwar1 & Shaharuddin Mohamad Ismail, Asian Social Science; Vol. 9, No. 9; 2013 ISSN 1911-2017 E-ISSN 1911-2025 Published by Canadian Center of Science and Education.
3. Policy and Tourism Development Strategy towards tourist Friendly Destination in Kuala Lumpur, Ahmad Nazrin Aris Anuar, Habibah Ahmad, Hamzah Jusoh & Mohd Yusof Hussain, Asian Social Science; Vol. 9, No. 2; 2013, ISSN 1911-2017 E-ISSN 1911-2025, Published by Canadian Center of Science and Education.

Lan Hương

Thứ hai, 04 Tháng sáu 2018 10:01

Trung Quốc cam kết kiểm soát chất thải nhựa

Tác giả :

     Theo thông cáo của Uỷ ban Cải cách và Phát triển Quốc gia Trung Quốc (NDRC) vào ngày mùng 5 tháng 1 năm nay, đất nước đông dân nhất thế giới với nỗ lực tìm kiếm giải pháp giảm thải ô nhiễm chất thải nhựa đã cam kết đưa ra các quy định chi tiết và toàn diện về các sản phẩm nhựa cũng như thúc đẩy các sáng kiến thay thế bằng các vật liệu gây ít ô nhiễm hơn.

   Động thái này được coi như một sự làm mới quy định năm 2008, khi Trung Quốc đưa ra lệnh cấm sử dụng túi ni-lông siêu mỏng với độ dày dưới 0,025mm và buộc các cửa hàng phải thu phí của khách hàng đối với tất cả các loại túi nhựa hoặc ni-lông khác.

tq-chathainhua 

Các dịch vụ chuyển phát nhanh đang góp phần làm gia tang chất thải nhựa (Ảnh: pedphoto36pm/ Thinkstock)

Thứ năm, 15 Tháng ba 2018 10:01

Một số loại hình du lịch mới trên thế giới

Tác giả :

  dulichmoi-2018-0 Xã hội loài người ngày càng phát triển, cùng với đó nhu cầu du lịch của con người cũng phát triển theo, đòi hỏi không chỉ có các loại hình du lịch truyền thống mà còn có cả các loại hình du lịch hiện đại. Những năm gần đây, ngành du lịch thế giới chứng kiến nhiều xu hướng, loại hình du lịch mới ra đời từ những ý tưởng vô cùng sáng tạo và độc đáo, đó là một biểu hiện cho một ngành kinh tế đang phát triển năng động bậc nhất.

   Việt Nam là đất nước có tiềm năng du lịch phong phú, tuy nhiên ngành du lịch vẫn chưa phát triển đúng tiềm năng do các loại hình du lịch còn đơn giản, cũ kỹ. Theo các chuyên gia về du lịch, để du lịch Việt Nam phát triển cần thúc đẩy các loại hình du lịch mới để khai thác các tiềm năng du lịch còn bỏ ngỏ, đồng  thời cũng là để đa dạng hóa các sản phẩm du lịch và khai thác thêm những phân khúc thị trường mới, nhiều tiềm năng.

   Người viết bài này không có tham vọng giới thiệu hết sự đa dạng, phong phú và sáng tạo mà những người làm du lịch chuyên nghiệp trên thế giới đang thực hiện. Bài tóm tắt dưới đây chỉ muốn giới thiệu đến quý độc giả một số sản phẩm và xu hướng du lịch đang nổi lên trong những năm gần đây và được kỳ vọng sẽ phát triển nhanh trong thời gian tới.

   Du lịch hồi giáo (Halal Tourism)

   “Halal tourism” là một thuật ngữ du lịch mới, bao gồm tất cả các hoạt động du lịch Hồi giáo. Loại hình du lịch này có thể được định nghĩa là tuân theo những quy định hoặc sự cấm đoán của đạo Hồi như: không rượu, không thịt lợn và khu bể bơi của nam và nữ tách riêng,…

 dulichmoi-2018-1

Dân số Hồi giáo đang tăng nhanh và sẽ tăng từ 1,6 tỷ năm 2010 lên 2,2 tỷ vào năm 2030. Du lịch hồi giáo được dự đoán tăng đến 50% vào năm 2020. (Ảnh: Internet)

    Có quy mô thị trường lớn và đang phát triển rất nhanh. Năm 2013, quy mô thị trường là 140 tỷ USD, theo dự báo đến năm 2019 quy mô của thị trường này khoảng 289 tỷ USD (nguồn: WIER). Thái Lan là nước đã nhanh chóng thích ứng với xu hướng mới này, họ cho xây dựng những khách sạn, nhà hàng, khu du lịch riêng để đón khách hồi giáo và thu hút được một lượng khách rất lớn.

Chi tiêu cho du lịch hồi giáo (Halal Tourism)

dulichmoi-2018-2

   Du lịch thanh niên (Youth Tourism)

   Youth tourism được định nghĩa là một thị trường nhánh trong du lịch, nó mô tả một chuyến du lịch độc lập dưới một năm bởi những người ở độ tuổi 15-30. Không giống như các kỳ nghỉ điển hình, du lịch thanh thiếu niên được thúc đẩy bởi một số yếu tố, bao gồm cả những mong muốn để trải nghiệm các nền văn hóa khác, xây dựng kinh nghiệm cuộc sống độc đáo, và được hưởng lợi từ các cơ hội học tập chính thức và không chính thức từ các nước khác, bao gồm giáo dục hoặc làm việc ở nước ngoài. 

 dulichmoi-2018-3

Ảnh minh họa Youth Tourism (ảnh: Internet)

 

   Bên cạnh đó, du lịch thanh thiếu niên còn được biết đến như là một sự kết hợp của thanh niên, sinh viên và các thị trường du lịch giáo dục và học tập. Đây là một thị trường rất lớn, chiếm hơn 20% của tổng lượng du khách quốc tế trong năm 2014 (tương đương với 227 triệu lượt khách và 250 tỷ USD)

   Du lịch đến những thắng cảnh có nguy cơ biến mất (Last Chance Tourism)

   Loại hình du lịch này được biết đến như là những mong muốn của du khách đến để chiêm ngưỡng các thắng cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp nhất trên thế giới nhưng đang bị đe dọa nhất, có nguy cơ biến mất hay các loại động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng trước khi chúng hoàn toàn biến mất. Một số điểm đến trên thế giới rất nổi tiếng với loại hình du lịch này như: Rạn san hô Great Barrier (Úc), vách đá vôi nổi tiếng White Cliffs of Dover tại Anh, Sông băng Chacaltaya trên núi Andes, Những bức vẽ trên cao nguyên Nazca (Peru), quần đảo Maldives, Biển Chết (Jordan), Vườn quốc gia Glacier Montana (Mỹ),..

dulichmoi-2018-4

Rạn san hô Great Barrier hiện đóng góp tới 7 tỷ USD mỗi năm cho du lịch của Australia cũng là sinh kế của khoảng 70.000 dân địa phương (ảnh: internet)

   Du lịch đồ chơi (Toy tourism)

   Đây là loại hình du lịch vô cùng kỳ lạ có khởi nguyên từ Nhật Bản, sau đó đã lan nhanh sang Hàn Quốc và nhiều nước châu Á khác và trở thành một xu hướng mới. Một công ty du lịch có tên là Unagi tại Nhật Bản bắt đầu một dịch vụ mới cho người khuyết tật hoặc rất già. Thay vì tự đi du lịch, những người có những khiếm khuyết về thể chất và tinh thần đã mua những tour của các công ty lữ hành để các món đồ chơi của họ được đi du lịch. Các công ty sẽ đưa đồ chơi của những khách hàng này đi và chụp nhiều ảnh trước khi trả về cho chủ của chúng. Năm 2014 đã có hơn 400 tour được thực hiện tại Nhật Bản, chi phí trung bình mỗi ngày cho đồ chơi đi du lịch khoảng 13,5 đô la Mỹ.

dulichmoi-2018-5

Ảnh minh họa một tour du lịch đồ chơi tại Ba Lan do công ty Panda Tour tổ chức (ảnh: Panda Tour)

   Du lịch dành cho phụ nữ sống đơn thân - PANKS (Professional Aunts No Kids)

   Khái niệm này đầu tiên được phổ biến tại Hoa Kỳ sau đó lan rộng ra nhiều nước khác. Các tour du lịch PARKS này được thiết kế có các bà cô, bà dì sống đơn thân và không có con nhưng mong muốn có một trải nghiệm về kỳ nghỉ với các cháu trai, cháu gái của họ “như với con của mình”. Tại Mỹ trong khi có 42% phụ nữ từ 15-44 tuổi không có trẻ em trong năm 2002, tỷ lệ này là 43,7% năm ngoái. Năm 2013 đã có 23 triệu PANKS tour được thực hiện tại Mỹ với doanh thu 9 tỷ Đô la Mỹ.

dulichmoi-2018-6

Một tour du lịch PANKS (ảnh: Reuters)

   Du lịch tìm về các miền đất tổ tiên (Diaspora)

   Diaspora là một thuật ngữ từ tiếng Do Thái, Diaspora Tourism được định nghĩa là những du khách đi du lịch về quê hương để tìm lại nguồn gốc của mình. Hầu hết khách du lịch ở Mỹ có tổ tiên di cư từ Nga, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc và các quốc gia vùng Baltic, từ Đông Âu, người Do Thái ở Mỹ đi du lịch về Phương Đông để khám phá nguồn gốc của mình. Họ đi du lịch để tìm hiểu về tổ tiên của họ, để hiểu về truyền thống, phong tục tập quán, để có được hình thức kết hôn theo truyền thống,.. Nó tạo ra các hoạt động du lịch mới.

dulichmoi-2018-7

Một tour du lịch Diaspora tại Uganda (ảnh: ugandandiasporanews.com)

 

   Bài tổng hợp ngắn này có thể được xem như vài gợi ý nhỏ giúp các doanh nghiệp du lịch trong nước suy nghĩ về cách mà các nhà làm du lịch chuyên nghiệp trên thế giới đang không ngừng đổi mới và sáng tạo để cạnh tranh. Với một thị trường có quá nhiều nhà cung cấp và cạnh tranh khốc liệt như ngành du lịch, cách để tồn tại và phát triển không phải là bán ra những sản phẩm giống hệt nhau.

Văn Dương

10. Israel

Ngành công nghiệp du lịch tại Israel cũng đang bùng nổ. Theo UNWTO, lượng khách du lịch tới nước này đang tăng 25.1% trong năm nay. Nếu xu hướng này vẫn tiếp tục duy trì lâu dài, sẽ đưa tổng số khách du lịch đến thăm Israel ước tính vào khoảng 3.7 triệu vào cuối năm nay. Israel và Palestine có thể là các điểm đến phát triển nhanh nhất ở Trung Đông
Thứ hai, 25 Tháng mười hai 2017 14:21

Một số kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững trên thế giới

Tác giả :

  UNWTO Du lịch bền vững là phương thức du lịch cân nhắc đầy đủ những tác động hiện tại và tương lai về kinh tế, xã hội và môi trường, trong khi đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch, ngành công nghiệp du lịch, môi trường và cộng đồng địa phương. (UNWTO, 2005)

   Du lịch bền vững có thể được hiểu là “Du lịch quan tâm đầy đủ tới tác động hiện tại và tương lai đối với kinh tế, xã hội và môi trường, lưu ý tới nhu cầu của khách du lịch, ngành Du lịch, môi trường và các cộng đồng địa phương”.
  Thực hiện phát triển du lịch bền vững có nghĩa là đạt được cân bằng trong số 4 trụ cột dưới đây.
   - Trụ cột Kinh tế được xác định là tạo ra phồn vinh ở các cấp độ khác nhau của xã hội và lưu ý đến hiệu quả chi phí cho tất cả các hoạt động kinh tế.
   - Trụ cột Văn hóa - Xã hội dựa trên sự tôn trọng nhân quyền và cơ hội bình đẳng cho tất cả các thành viên trong xã hội cần được phân chia bình đẳng về lợi ích.
   - Trụ cột Môi trường liên quan tới bảo tồn và quản lý tài nguyên, bao gồm tài nguyên thiên nhiên và văn hóa, quản lý đa dạng sinh học và rác thải.
   - Trụ cột Bao trùm hỗ trợ các trụ cột Kinh tế, Văn hóa - Xã hội và Môi trường thông qua chính phủ, cơ sở hạ tầng…
   Dưới đây phân tích một số kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững tại một số quốc gia trên thế giới để có thể thấy cách thức phát triển là khác nhau trong từng trường hợp nhưng đều tuân thủ những nguyên tắc phát triển chung.

  nc-bvmt-2017-11. Kinh nghiệm xây dựng mô hình bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch trên Thế giới

1.1. Mô hình ma trận hệ sinh thái và du lịch (Ecology-Tourism Matrix, ETM)
   Mô hình ETM được áp dụng vào khu du lịch đặc biệt Munnar, Kerala (Ấn Độ) . Mục đích chủ yếu khi sử dụng mô hình ETM là nhằm đưa ra kế hoạch phát triển du lịch dựa vào bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên (hay cân bằng giữa phát triển du lịch và bảo vệ môi trường) cho khu du lịch đặc biệt Munnar (Munnar STZ).
   Mô hình ETM thực chất là việc sử dụng kết hợp hai chỉ số: nhạy cảm sinh thái (ESI) và hấp dẫn du lịch (TAI) để đánh giá từng điểm du lịch (điểm hấp dẫn/hoạt động khác nhau) trong khu du lịch. Điểm du lịch (nodes) trong mô hình ETM được hiểu là điểm có khả năng thu hút khách du lịch, có ý nghĩa bảo tồn và ý nghĩa du lịch. Việc nhận dạng các điểm được thực hiện thông qua bảng kê danh sách tài nguyên du lịch, được đưa ra thảo luận nhóm, có tham khảo ý kiến của chuyên gia và được điều tra cụ thể. Ngoài ra, trong mô hình ETM còn có các thành phố/thị xã chủ yếu (Hubs) nằm trong vùng, tiểu vùng của khu du lịch. Nodes và Hubs được kết nối với nhau theo nguyên tắc “Trục bánh xe và nan hoa”. Bên cạnh đó, trong mô hình ETM còn định rõ vùng và các thành phần chiến lược cấu thành khu du lịch đặc biệt (như: vùng, tiểu vùng và thành phần kết nối) như sơ đồ dưới đây (U.V Jose, Muhammed, Vijayakumar S., Sonia Joes, 2009).

Trang 1 / 2