SCREEN

Cpanel

23Tháng bẩy2017

Kinh nghiệm quốc tế

Kinh nghiệm quốc tế (11)

   1. Thái Lan – Văn hóa Thái là lợi thế cạnh tranh trong phát triển sản phẩm du lịch


Asean mai 2 
Chùa Wat Phra That Doi Suthep - Chiang Mai Thái Lan

   Thái Lan là nước có ngành du lịch phát triển mạnh ở châu Á. Truyền thống văn hóa và sự mến khách của nhân dân Thái Lan là yếu tố quan trọng góp phần tăng cường thu hút khách du lịch đến với đất nước này. Ngành du lịch là ngành thu được nguồn ngoại tệ chủ yếu và cao hơn các ngành sản xuất khác của Thái Lan. Thị trường khách quốc tế chủ yếu của Thái Lan là các nước trong khối ASEAN, châu Á, châu Âu như Pháp, Đức, Bỉ…
   Cơ quan Du lịch Quốc gia Thái Lan, gọi tắt là TAT là cơ quan quản lý nhà nước cao nhất, có trách nhiệm xúc tiến và phát triển du lịch Thái Lan. TAT là cơ quan trực thuộc Chính phủ, hoạt động độc lập. Đứng đầu Cơ quan Du lịch Quốc gia là Thống đốc. Giúp việc cho Thống đốc có Văn phòng Thống đốc, Hội đồng Tư vấn, Viện Đào tạo Khách sạn và Du lịch, Văn phòng Kinh doanh Du lịch Bangkok, Ban Quản lý hoạt động khu du lịch và Thanh tra Tài chính nội bộ… Sự hoạt động của TAT rất đạt hiệu quả, bởi có chiến lược và biết tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu thị trường và xúc tiến quảng bá, sau đó đưa ra định hướng và những giải pháp cụ thể cho các doanh nghiệp thực hiện. TAT luôn phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành có liên quan đến du lịch để chỉ đạo các doanh nghiệp triển khai các hoạt động du lịch; qua đó, liên tục đề xuất, trình Chính phủ phê duyệt từ các chính sách, chiến lược cho đến các chiến dịch, chương trình xúc tiến quảng bá từng thị trường khách cụ thể, trong từng giai đoạn nhất định.
   Trong nhiều năm liên tục, một trong những yếu tố quan trọng đã giúp ngành Du lịch Thái Lan mang lại lợi nhuận cao nhất cho quốc gia này là các chiến dịch quảng bá và xúc tiến đa dạng như: Năm 1982 là Rattanakosin Bicentennial; 1987 và năm 1992 đều có chủ đề là Năm Du lịch Thái Lan; hai năm liền 1998 - 1999 là Chiến dịch Amazing Thailand… Năm 1997, khi Thái Lan rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế thì chính du lịch là ngành kinh tế chủ đạo góp phần đưa nền kinh tế Thái Lan từ chỗ thâm hụt, giảm sút đến mức ổn định và dần tăng trưởng trở lại.
   Tuy nhiên, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Thái Lan về du lịch là tăng cường, tập trung thu hút khách, tăng nguồn thu cho ngân sách, nhưng sự bùng nổ du lịch đó đã mang đến cho Thái Lan những tác động tiêu cực đối với các tài nguyên du lịch như vấn đề suy thoái, ô nhiễm môi trường, thay đổi sắc thái nền văn hóa. Nhận thức được ảnh hưởng tiêu cực đó, Chính phủ Thái Lan đã chuyển mục tiêu phát triển du lịch, tập trung vào việc nâng cao phần đóng góp tăng trưởng kinh tế của đất nước, bảo vệ môi trường trên cơ sở phát triển một cách ổn định và cân bằng, khuyến khích phát triển các nguồn lực, đảm bảo năng lực tham gia vào quá trình phát triển du lịch.
   Thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, TAT đã đưa ra các chính sách cụ thể nhằm xúc tiến, phát triển du lịch trong giai đoạn tiếp theo như sau:
   - Khôi phục và giữ gìn các tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường, văn hóa nghệ thuật thông qua việc ưu tiên phát triển du lịch bền vững.
   - Thúc đẩy hợp tác giữa khu vực nhà nước và tư nhân, phối hợp với cộng đồng địa phương trong quá trình khai thác, phát triển và quản lý tài nguyên du lịch.
   - Hỗ trợ phát triển các đối tượng cung cấp dịch vụ cho du khách thông qua việc áp dụng các tiến bộ về khoa học, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
   - Tăng cường hợp tác với các nước láng giềng, phối hợp xúc tiến, quảng bá phát triển các hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới giao thông và các tiện ích phục vụ du lịch.
   - Khuyến khích phát triển nguồn nhân lực, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ du lịch cả về số lượng và chất lượng.
   - Thực hiện nghiêm túc các quy định trong việc đảm bảo an ninh cho du khách và môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp du lịch.
Ngoài ra, đối với các vấn đề liên quan đến du lịch, Thái Lan cũng có những chính sách cụ thể như: đối với Hàng không; giao thông đường bộ; du lịch đường biển; vấn đề thủ tục visa và cảnh quan, môi trường du lịch…
   Thái Lan xác định chiến lược phát triển sản phẩm du lịch với mục tiêu đưa du lịch Thái Lan có khả năng cạnh tranh quốc tế, đảm bảo cuộc sống cho người Thái và đảm bảo cân bằng kinh tế, xã hội. Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch 2012-2016 xác định phát triển mô hình chiến lược đã thực hiện tạo dựng các cơ hội mới vì sự phát triển bền vững trong tương lai. 4 chiến lược thành phần: xây dựng khả năng cạnh tranh cho du lịch của đất nước; tạo dựng cơ hội phát triển mạnh mẽ; phát triển gắn với tài nguyên thiên nhiên; tăng cường công tác quản lý của chính phủ.
7 chủ đề sản phẩm du lịch được xác định trong chiến lược và xác định chi tiết theo các hạng mục:
   Năm 2015, ngành du lịch Thái Lan lựa chọn những sản phẩm du lịch trong đó khách du lịch được trải nghiệm về “Thainess” (đặc trưng Thái). Các sản phẩm được lựa chọn phát triển trong kế hoạch này đưa ra những định hướng phát triển cụ thể về “Điểm đến PHẢI THĂM”, “Hoạt động PHẢI LÀM”, “Sản phẩm PHẢI MUA” và “Món ăn PHẢI NẾM”.
 Ẩm thực Thái Lan – du lịch ẩm thực
 Nghệ thuật Thái Lan – du lịch văn hóa nghệ thuật
 Cuộc sống của người Thái Lan – du lịch trải nghiệm cuộc sống bản địa
 Sức khỏe Thái Lan – du lịch chăm sóc sức khỏe
 Lễ hội truyền thống Thái Lan – du lịch lễ hội
 Sự thông thái của Thái Lan – du lịch tìm hiểu văn hóa truyền thống các dân tộc
 Niềm vui Thái Lan – du lịch vui chơi giải trí

   2. Singapore – Du lịch MICE khẳng định thế mạnh
   Singapore là một quốc đảo nhỏ, tài nguyên hạn chế, nhưng đã biết phát huy triệt để tiềm năng, thế mạnh về vị trí địa lý và nguồn lực con người để có những bước phát triển vượt bậc. Diện tích quốc đảo chỉ có 710 km2 nhưng có đến 5,2 triệu người đang sinh sống, làm việc ở đây, trong đó có gần 2 triệu người nước ngoài. Trong các thành công của Singapore thời gian qua phải kể đến sự thành công của chính sách phát triển du lịch phù hợp cho từng giai đoạn của Chính phủ Singgapore.
   Từ năm 1965 đến nay, Singapore đã hoạch định chiến lược, xây dựng 6 kế hoạch phát triển du lịch khác nhau, đó là: “Kế hoạch Du lịch Singapore” (năm 1968), “Kế hoạch Phát triển du lịch” (năm 1986), “Kế hoạch Phát triển chiến lược” (năm 1993), “Du lịch 21” (năm 1996), “Du lịch 2015” (năm 2005), “Địa giới du lịch 2020” (năm 2012).

Asean mai 3
Nguồn: Singapore Tourism Board

   Với “Kế hoạch phát triển du lịch” (năm 1986), Singapore chủ trương bảo tồn và khôi phục các khu lịch sử văn hóa như: Khu phố của người Hoa, Tanjong Tagar, Little India, Kampong Glam, sông Singapore. Với “Kế hoạch Phát triển chiến lược” (năm 1993), Singgapore tập trung phát triển các sản phẩm du lịch mới như: du thuyền, du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục, du lịch trăng mật; phát triển các thị trường du lịch mới; tổ chức các lễ hội lớn mang tầm cỡ quốc tế; tập trung phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch; trao các giải thưởng về du lịch; giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về du lịch…
   Năm 1996, Singapore triển khai “Du lịch 21”, chuẩn bị và thực hiện tầm nhìn dài hạn cho sự phát triển của du lịch trong Thế kỷ 21, với các chiến lược thị trường du lịch mới nổi, chiến lược du lịch khu vực, chiến lược phát triển sản phẩm du lịch mới, chiến lược nguồn vốn du lịch, chiến lược “Nhà vô địch du lịch Singapore”.
   Trong “Du lịch 2015”, Singapore tập trung phát triển các thị trường chính với phương châm tạo sự hiểu biết tốt hơn về Singapore, phát triển Singapore thành một điểm du lịch “phải đến”, cải thiện tiêu chuẩn dịch vụ nhằm cung cấp các dịch vụ đáng nhớ cho khách du lịch, nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch, phát triển các doanh nghiệp du lịch và nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệp, phát triển các sản phẩm trọng tâm của du lịch… Năm 2012, Singgapore chi 300 triệu đô Sing để tổ chức các sự kiện du lịch, chi 340 triệu đô Sing phát triển các sản phẩm du lịch, chi 265 triệu đô Sing phát triển nguồn nhân lực du lịch. Đến năm 2015, Singapore đầu tư cho Quỹ phát triển du lịch là 2 tỷ đô Sing, dự kiến đón khoảng 17 triệu khách du lịch quốc tế và doanh thu từ du lịch khoảng 30 tỷ đô Sing.
   Singapore xây dựng chiến lược phát triển du lịch MICE, xác định đưa quốc gia này trở thành cường quốc dẫn đầu trong khu vực Châu Á về du lịch hội nghị hội thảo. Đồng thời, Singapore sẽ phát triển trở thành trung tâm dịch vụ và nghỉ dưỡng của khu vực. Chiến lược này xác định ra các dự án du lịch lớn cần phải thực hiện như Giải đua công thức 1 (Formula OneTM Singapore Grand Prix), Khu phức hợp nghỉ dưỡng (Integrated Resorts) và Vòng đu quay khổng lồ (Singapore Flyer)…
   Xác định phát triển du lịch MICE là trọng tâm: với lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, là trung tâm của các hoạt động giao thương lớn trong khu vực, Singapore xác định phát triển du lịch MICE là trọng tâm của chiến lược phát triển sản phẩm du lịch.
   Từ năm 1971, quốc gia này đã xúc tiến hình ảnh “Trung tâm hội nghị của phía Đông”, cùng với việc thành lập Cục phát triển Hội nghị Singapore năm 1974 (Singapore Convention Bureau - SCB) với nhiệm vụ xây dựng nhận thức cho cả thế giới về châu Á – một điểm đến tổ chức hội nghị hội thảo và nghĩ đến Singapore – điểm đến MICE tốt nhất ở Châu Á.
   Xác định được mục tiêu, Singapore bắt tay với các khách sạn lớn hàng đầu thế giới phát triển các trung tâm hội nghị, các nhà đầu tư tư nhân để phát triển các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại. Đến cuối những năm 1990, Singapore đã có đủ các cơ sở hạ tầng, VCKT cần thiết để tổ chức các sự kiện MICE tầm cỡ thế giới như Suntec Singapore International Convention, Exhibition Centre và the Singapore Expo.
   Đến năm 1996, SCB đổi tên thành Cục phát triển Hội nghị và Triển lãm Singapore (SECB) để mở rộng sang lĩnh vực tổ chức triển lãm. Cùng với đó là sự hợp tác với các bên đối tác là doanh nghiệp trong lĩnh vực tổ chức sự kiện, lữ hành để nâng cao chất lượng trải nghiệm du lịch MICE cho khách hàng là người đi du lịch công vụ.
   Hiện nay, Singapore đã trở thành điểm đến dẫn đầu thế giới về du lịch MICE, lĩnh vực này đóng góp hơn 30% vào tổng thu từ du lịch của quốc gia. Dù vậy, quốc gia này vẫn nỗ lực để thay đổi, phát triển không ngừng, để duy trì vị trí dẫn đầu.

   3. Malaysia – du lịch nghỉ dưỡng

Asean mai 4
Nguồn: Malaysia Tourism

   Malaysia là đất nước có ngành Du lịch phát triển nhất trong khu vực. Mục tiêu phát triển du lịch của Malaysia đến năm 2020 trở thành nước phát triển về du lịch hàng đầu trong khu vực và quốc tế. Thông điệp chính của ngành du lịch thể hiện mục tiêu và quan điểm phát triển: “Định vị Malaysia là điểm đến du lịch hàng đầu trong nhận thức thị trường và xây dựng ngành du lịch thành ngành có đóng góp chính trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”. 10 thị trường khách du lịch hàng đầu của Malaysia theo thứ tự quan trọng bao gồm Singapore, Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc, Brunay, Ấn Độ, Australia, Philipines, Anh và Nhật Bản.
   Trong chiến lược chung của Malaysia về chuyển dịch kinh tế, ngành Du lịch xây dựng kế hoạch chuyển dịch phát triển du lịch đến năm 2020 tập trung vào việc phát triển sản phẩm và thị trường với mục tiêu chính là tập trung vào thị trường có khả năng chi trả cao, đẩy mạnh chương trình tiêu dùng của khách du lịch.
   Hai hướng chính trong quan điểm phát triển là: bảo vệ, bảo tồn và giữ gìn môi trường: phát triển du lịch xanh, giải thưởng khách sạn xanh, chiến dịch quốc gia về một Malaysia xanh, một Malaysia sạch và phát triển toàn diện, chú trọng tính cân bằng và tính bền vững (tầm quan trọng của lợi ích cộng đồng).
   Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay. Malaysia xác định phải có những sáng kiến và cải tiến trong phát triển sản phẩm. Các sáng kiến tập trung vào tổ chức các sự kiện tầm quan trọng quốc gia gồm: “Malaysia ngôi nhà thứ 2 của tôi” để khuyến khích người nước ngoài mua nhà tại Malaysia để đi lại nghỉ ngơi, du lịch và kéo theo người thân và bạn bè tới du lịch tại đây. Ngoài ra, Malaysia cũng tập trung vào duy trì và khuếch trương sản phẩm du lịch mua sắm. Tập trung các sản phẩm cho thị trường du lịch cao cấp và xác định địa điểm cụ thể và từng hoạt động: nghỉ dưỡng tại các khu du lịch, vui chơi giải trí, các loại hình thể thao, các địa điểm mua sắm. Đặc biệt tập trung vào đẩy mạnh du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục và cuối cùng là du lịch MICE.
   Malaysia đã khai thác ba nét nổi bật nhằm tạo nên sự độc đáo và hấp dẫn để phát triển du lịch, thu hút du khách. Đầu tiên, Malaysia là một quốc gia đa dân tộc, sự pha trộn nhiều nền văn hóa khác nhau tạo nên một bản sắc văn hóa rất riêng. Với hơn 60% dân số theo đạo Hồi, những nét văn hóa đạo Hồi của Malaysia mang đến trải nghiệm thú vị cho du khách. Bên cạnh đó, Malaysia còn có văn hóa ẩm thực đặc sắc, bởi đây là nơi giao thoa của nhiều nền ẩm thực hàng đầu. Malaysia cũng là đất nước có nhiều điểm đến hấp dẫn, du khách có thể thể thỏa sức khám phá vẻ đẹp đích thực của châu Á từ các thành phố sang trọng, rừng cây nhiệt đới cho đến những vùng núi cao, cao nguyên hoang sơ, bãi biển đẹp. Đặc biệt, nét nổi bật của du lịch Malaysia là các sản phẩm du lịch đa dạng, đẳng cấp quốc tế với mức giá cạnh tranh. Nổi bật là du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, thể thao mạo hiểm, các địa điểm mua sắm… Malaysia hiện đang đẩy mạnh phát triển các sản phẩm mới như du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục và du lịch công vụ (M.I.C.E). Để thu hút đông đảo du khách hơn nữa, Malaysia luôn chú trọng sáng tạo các sản phẩm du lịch mới, thoản mãn mọi nhu cầu của du khách khắp nơi trên thế giới…
   Về quy hoạch du lịch, Malaysia không có một quy hoạch tổng thể phát triển du lịch như cách tiếp cận của Việt Nam mà chỉ có “Kế hoạch chuyển đổi du lịch Malaysia đến năm 2020” nhằm thu hút các thị trường trường du lịch có khả năng chi trả cao và tăng chi tiêu du lịch. Các khu vực, địa bàn phát triển du lịch chính với các chức năng cụ thể đã được xác định trong Chiến lược Phát triển du lịch từ những năm 1970 vẫn được duy trì. Căn cứ vào định hướng có tính quốc gia này, các địa phương, thậm chí doanh nghiệp du lịch sẽ có những kế hoạch phát triển du lịch cụ thể.

   4. Indonesia – du lịch sinh thái và cộng đồng
   Indonesia đã xây dựng xong chiến lược tổng thể phát triển du lịch đến năm 2025, theo đó tư tưởng chính sẽ tập trung nâng cao chất lượng du lịch. Mục đích của chiến lược phát triển du lịch đến năm 2025 của Indonesia sẽ phát triển khoảng 50 điểm đến quy mô quốc gia với một số “hành lang du lịch”, lượng khách quốc tế dự kiến đến thời điểm này dự kiến đạt 25 triệu lượt người. Cùng với chiến lược là một kế hoạch phát triển đến năm 2015 cũng đã hoàn tất với nội dung tập trung phát triển 3 loại hình du lịch chính là du lịch sinh thái, du lịch nông thôn và du lịch biển. Đối với du lịch nông thôn sẽ triển khai trên 54 điểm, du lịch sinh thái là 50 điểm ở các vườn quốc gia.

Asean mai 1
Nguồn: Indonesia Tourism

   Indonesia có chủ trương phát triển du lịch dựa vào cộng đồng. Chính phủ hỗ trợ phát triển bằng việc cho thuê đất với giá rẻ để cộng động làm du lịch, đồng thời hướng dẫn và đào tạo cộng đồng về nghiệp vụ du lịch. Các sản phẩm chính được định hướng: du lịch di sản, du lịch sinh thái, du lịch đánh golf, du lịch lặn biển, du lịch MICE. Ở Indonesia, Vụ Thị trường của Cục Xúc tiến Indonesia có nhiệm vụ theo dõi diễn biến thị trường, định hướng và tổ chức các hoạt động xúc tiến quảng bà du lịch ở cấp quốc gia. Từ việc theo dõi thị trường và đánh giá tình hình, xu hướng phát triển kinh tế - xã hội và du lịch, Indonesia chuyển hướng thu hút thị trường khách du lịch ASEAN. Ngân sách xúc tiến quảng bá du lịch năm 2010 của Indonesia vào khoảng 40 triệu USD.
   Đối với việc phát triển sản phẩm du lịch, đặc biệt tại địa bàn đảo Bali – một trong những điểm du lịch nổi bật của Indonesia thì những thành công chính nằm ở vấn đề như tôn trọng ý kiến, tập tục và tư duy của người bản địa; nâng cao nhận thức về phát triển du lịch theo một quá trình; ban hành các quy định chặt chẽ và rõ ràng về kiến thức, có quan điểm bảo tồn và giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống.

 

ThS. Nguyễn Hoàng Mai – Phòng QLKH&HTQT

   XuhuongKinh nghiệm của Thái Lan

   Nhận thức được tầm quan trọng của phát triển du lịch đối với nền kinh tế quốc dân nên Thái Lan là một trong những nước tiên phong trong du lịch bắt tay vào làm du lịch và trở thành “cường quốc du lịch” trong khu vực.

   Xu hướng du lịch sinh thái

  Những năm gần đây, xu hướng đi du lịch sinh thái ngày càng phát triển vì con người ngày càng muốn gần gũi với thiên nhiên. Tổng cục Du lịch Thái Lan (TAT) và các doanh nghiệp tư nhân đã nhanh chóng nắm bắt được xu hướng này của khách du lịch và nhanh chóng phát triển rất nhanh loại hình du lịch này. Nhận thức được thực tế là Thái Lan được tạo hóa ban tặng nhiều kỳ quan thiên nhiên tuyệt đẹp với những cảnh quan hoang dã phù hợp với loại hình du lịch sinh thái, chính phủ Thái Lan đã đầu tư nhiều tiền vào phát triển du lịch sinh thái và kết quả là Thái Lan đã trở thành điểm đến quen thuộc đối với những du khách yêu thích khám phá, tìm hiểu tự nhiên. Trong suốt hai thập kỷ qua, những hoạt động như xe đạp leo núi, thả bè trên sông, cắm trại, ngắm chim choc, tự nhiên, lặn biển, leo núi đá…rất phát triển trong những khu du lịch tự nhiên của Thái Lan, đặc biệt là khu vực phía Bắc, Đông và Nam Thái Lan. Với hành trình Bangkok - Pattaya - Kanchanaburi sẽ đưa du khách đến không gian xanh của những cánh rừng nguyên sinh bát ngát, những ngọn núi đồi hùng vĩ. Ở Kanchanaburi, nơi địa hình thung lũng rộng lớn bao quanh bởi núi đồi và những cánh rừng nguyên sinh cùng ba con sông nổi tiếng Khwae Noi, Khwae Yai và Mae Klong hợp lưu với nhau, các doanh nghiệp du lịch Thái đã đầu tư vào các hoạt động vui chơi giải trí gắn liền với sông nước thú vị như: vượt thác, tắm thác giữa đại ngàn núi rừng bao la với phương pháp massage bằng nước cực kỳ hiệu nghiệm. Bên cạnh đó, Kanchanaburi còn thu hút du khách với trải nghiệm hoàn toàn độc đáo, mới lạ trên lưng những chú voi khổng lồ để du ngoạn cảnh sắc hai bên cánh rừng mênh mông.

neZEH WEB SITE SLIDE SHOW 620x211

   UNWTO và các đối tác đã giới thiệu bộ công cụ điện tử hướng dẫn các khách sạn đạt tới mức tiêu thụ năng lượng gần như bằng 0 (Nghĩa là các khách sạn tối đa hóa sử dụng nguồn năng lượng tái tạo, hạn chế lượng năng sử dụng gần như bằng 0).
Bộ công cụ điện tử neZEH (nearly-Zero Enery Hotels – tạm dịch: Những khách sạn sử dụng năng lượng gần như bằng 0) đã chính thức được công bố tại website www.nezeh.eu. Bộ công cụ hỗ trợ đánh giá hiệu suất sử dụng năng lượng của khách sạn và đề xuất các biện pháp cải tiến hiệu quả và tối đa hóa sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo, hướng tới hạn chế gần như bằng 0 việc tiêu thụ năng lượng.

   Đảo NamiĐảo Nami nằm ở thành phố Chuncheon, cách thủ đô Seoul, Hàn Quốc khoảng 70km. Đây là hòn đảo xinh đẹp, nổi tiếng gắn liền với sự thành công của bộ phim “Bản tình ca mùa đông”. Năm 2013, đảo Nami thu hút gần 3 triệu khách du lịch, trong đó xấp xỉ 1 triệu khách quốc tế. Đây là con số đáng kinh ngạc bởi trên thực tế, du lịch của hòn đảo nhỏ bé này đã từng có giai đoạn suy thoái, tưởng chừng không thể vực dậy được.

   Theo lý luận mang tính tiến bộ của Butler(1980), có thể nhìn nhận rằng đảo Nami là điểm du lịch có “sinh mệnh” đã trải qua chu kỳ vòng đời của mình theo mô hình chữ S gồm các giai đoạn là thăm dò, khai phá, phát triển, tăng trưởng, đình trệ và suy thoái, giai đoạn cải tạo. Việc khai thác đảo Nami được chính thức bắt đầu từ năm 1966 khi công ty phát triển du lịch KyoungChun được thành lập, lượng khách du lịch thăm quan đảo tăng đều cho đến năm 1989, tuy nhiên, đến năm 1990 bắt đầu đi vào suy thoái. Từ năm 2002, công ty tuyên bố cải tạo lại đảo và những nỗ lực trong quá trình tái tạo lại môi trường du lịch nơi đây đem lại kết quả là Đảo Nami đã quay trở lại vị trí vốn có của nó, địa điểm du lịch tiêu biểu của Hàn Quốc. Vậy hòn đảo này đã cải tạo, phát triển du lịch như thế nào?

Thứ hai, 17 Tháng mười một 2014 15:14

Kinh nghiệm quốc tế trong quản lý chất lượng du lịch

Tác giả :

logoVien chuan   Thực hiện sự chỉ đạo của Lãnh đạo Tổng cục, thuộc chương trình hành động quốc gia về Du lịch, Viện NCPTDL xây dựng bộ công cụ quản lý chất lượng 06 lĩnh vực du lịch: Lữ hành, khách sạn, cơ sở ăn uống, cơ sowkr mua sắm, khu điểm du lịch, điểm dừng chân du lịch. Sau quá trình nghuên cứu, tìm hiểu, Viện NCPTDL đúc rút được một số kinh nghiệm Quốc tế trong quản lý chất lượng của một số quốc gia trên thế giới như: Anh, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Hàn Quốc, Nhật Bản.

   Trong lĩnh vực du lịch, khách sạn, quản lý chất lượng toàn diện (TQM) là một quá trình mà huy động toàn bộ nhân viên làm việc theo nhóm để đáp ứng mong đợi về dịch vụ của khách hàng và quyết định cách tốt nhất để đáp ứng hoặc vượt quá những mong đợi đó.

   Đảm bảo chất lượng phụ thuộc vào hai yếu tốt quan trọng trọng kinh doanh: đặc trưng của hàng hóa, dịch vụ đó và sự kiểm soát chất lượng trong quá trình cung cấp dịch vụ mà thường được hỗ trợ bởi hoạt động kiểm tra, đánh giá (theo Evans and Lindsay, 2010).

   Sáng kiến ST-EP (Sustainable Tourism - Eliminating Poverty Initiative - Du lịch bền vững - xóa đói giảm nghèo)  là một Chương trình quan trọng của Tổ chức Du lịch thế giới UNWTO trong những năm qua nhằm hướng dẫn các nước thành viên về các giải pháp thực hiện xóa đói giảm nghèo thông qua hỗ trợ cộng đồng phát triển du lịch.

  Phát triển du lịch gắn với xóa đói giảm nghèo đang là mục tiêu của nhiều quốc gia nghèo và quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Hiện nay, Viện NCPT Du lịch với tư cách là đơn vị tham mưu cho Tổng cục Du lịch đã xây dựng Đề án “Phát triển du lịch cộng đồng kết hợp xóa đói giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn đến năm 2020 để Bộ VHTTDL trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đây được coi là một nhiệm vụ quan trọng mà Bộ VHTTDL chủ trì để tiến tới cùng các Bộ, ngành liên quan thực hiện lồng ghép nhiệm vụ phát triển du lịch vào các mục tiêu xóa đói giảm nghèo.

    Sáng kiến ST-EP được bắt nguồn từ yêu cầu phát triển tất yếu. Tại Hội nghị Thượng đỉnh thiên niên kỷ từ năm 2000, Liên Hợp Quốc xác định nghèo đói là thách thức lớn của toàn cầu, coi đó như một trong những Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs), hướng tới xóa đói giảm nghèo cùng cực vào năm 2015. Với mục tiêu này, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã tìm cách giải quyết vấn đề bằng việc đưa ra Sáng kiến ST-EP (Sustainable Tourism - Eliminating Poverty Initiative), công bố tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển Bền vững tại Johannesburg năm 2002.

     Mặc dù du lịch có vị trí đặc biệt trong việc xóa đói giảm nghèo, tuy nhiên, người nghèo ở những nước kém phát triển không được hưởng các loại ích kinh tế từ ngành du lịch. Tổ chức Du lịch thế giới đã đưa ra chương trình Du lịch bền vững – Xóa đói giảm nghèo (Sáng kiến ST-EP) nhằm thúc đẩy xóa đói giảm nghèo thông qua hỗ trợ cho các dự án phát triển bền vững. Mọi sáng kiến tập trung vào việc duy trì và nâng cao các hoạt động mang tính lâu dài của các tổ chức hướng tới khuyến khích phát triển du lịch bền vững - xã hội, kinh tế và sinh thái - với các hoạt động đặc biệt tiến tới xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ,  tạo công ăn việc làm cho người dân sống dưới mức một đô-la một ngày. UNWTO xem Sáng kiến ST-EP như một công cụ hiệu quả để thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDGs). Du lịch có thể đóng một vai trò quan trọng đặc biệt đối với mục tiêu 1, 3, 7, 8 giải quyết xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới, xây dựng môi trường bền vững và hợp tác toàn cầu.

     Sau khi ra mắt Sáng kiến ST-EP, UNWTO đã thành lập Quỹ ST-EP tại Seoul - Hàn Quốc năm 2004 và bắt đầu thực hiện dự án vào cuối năm 2005 với một chương trình đào tạo hướng dẫn viên du lịch địa phương cho ngôi làng Ebogo ở Camerun. Kể từ đó, danh mục đầu tư của dự án nhanh cho chóng được mở rộng, hiện nay, nó bao gồm hơn 100 dự án nhỏ tại 30 quốc gia đang phát triển với nhiều hoạt động khác nhau từ phát triển sản phẩm du lịch sinh thái cộng đồng địa phương ở Guatemala, cho đến việc phát triển và quảng bá Đường mòn Himalaya vĩ đại tại Nepal với hướng tiếp cận nâng cao nhân tố kinh tế thông qua du lịch tại các quốc gia này. Một nửa số quốc gia được hưởng lợi từ những dự án là các nước kém phát triển. Các dự án có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan du lịch quốc gia, chính phủ địa phương, các tổ chức phai chính phủ, các tổ chức phát triển và doanh nghiệp du lịch tại các nước thụ hưởng.

     Dự án Sáng kiến ST-EP thường xuyên tổ chức các hội thảo nhằm nâng cao hiểu biết cũng như năng lực cho các cán bộ công chức, tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp tư nhân, cộng đồng địa phương. Năm 2004, UNWTO đã tổ chức trên 20 hội thảo đào tạo tại các vùng miền và các quốc gia về du lịch và xóa đói giảm nghèo với tổng đại biểu lên tới 2000 quan chức. Ngoài các hội thảo, UNWTO còn tổ chức nhiều diễn đàn ST-EP tại ITB Bec-lin, trình bày dự án này tại các hội thảo quốc tế, cung cấp bài giảng cho nhiều khóa học du lịch, tất cả nhằm phổ biến các kinh nghiệm cũng như bài học trước đó cho nhiều tổ chức và cá nhân quan tâm đến việc làm thế nào thực hiện được các mục tiêu thiên niên kỷ.

     Hiện nay, chương trình Sáng kiến ST-EP vẫn đang được Tổ chức Du lịch thế giới UNWTO tiếp tục triển khai tích cực.

7 CƠ CHẾ CỦA ST- EP

     Để mang đến những lợi ích thiết thực cho người nghèo, cần thiết phải có hệ thống thông tin rõ ràng nhằm tác động  đến việc khuyến khích chi tiêu của khách du lịch, đây cũng là việc đầu tư để cải thiện thu nhập và chất lượng sống cho người dân ở vùng nghèo đói, đồng thời đảm bảo mọi khả năng về vật chất và nhân lực tại địa phương đều được xem xét và sử dụng cho du lịch, đem lại lợi ích kinh tế vùng miền.
     Trong ấn phẩm: Du lịch và xóa đói giảm nghèo, đề nghị hành động, Sáng kiến ST- EP đã giới thiệu 7 cơ chế khác nhau, trong đó, người nghèo có thể được hưởng lợi ích từ ngành du lịch. Những cơ chế này trở thành kim chỉ nam quan trọng của Sáng kiến ST-EP, liên quan đến việc phổ biến và kết hợp hoạt động trong dự án ST-EP: nghiên cứu, hội thảo, đào tạo và các hội nghị liên quan. Có thể tóm tắt mỗi cơ chế như sau:

     1. Tạo việc làm cho người nghèo trong các doanh nghiệp du lịch
     Cơ chế này bao gồm các biện pháp thực hiện nhằm nâng cao mức sống cho người nghèo khi làm việc cho các doanh nghiệp du lịch. Thực tế, mối quan hệ giữa kinh doanh du lịch và việc làm cho người dân địa phương  là một hệ cộng sinh, trong đó cả hai mặt đều được hưởng lợi đáng kể. Những khu vực nghèo đói sẽ được hưởng lợi ích trực tiếp bởi nó cho phép người nghèo phát triển những kỹ năng của họ và được hưởng lợi từ điều đó, nâng cao các chất lượng dịch vụ du lịch. Nâng cao chất lượng của  giáo dục và đào tạo được cho là rất quan trọng, nhằm giúp người nghèo có thể đáp ứng được yêu cầu cơ hội đến với họ đồng thời, bất kì rào cản xã hội và văn hóa nào cũng bị loại bỏ.

     2. Người nghèo hay các tổ chức kinh tế của họ cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho các doanh nghiệp du lịch
    Một trong những điều kiện cơ bản để có thể xóa đói giảm nghèo đó là hàng hóa và dịch vụ trong ngành du lịch phải là một chuỗi cung ứng, nhiều nhất có thể, đến từ các địa phương, vùng miền. Mục tiêu hướng tới là tối đa hóa tiêu dùng cho ngành du lịch và lợi ích đó được giữ lại ở cộng đồng địa phương mà trong đó, người nghèo tham gia vào quá trình này. Biện pháp nêu trên giúp hỗ trợ các kỹ năng và hoạt động truyền thống của vùng nông thôn, nâng cao chất lượng và định vị sản phẩm du lịch địa phương, giúp ổn định các nguồn thu nhập cho người dân.

     3. Người nghèo trực tiếp cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho du khách (hoạt động kinh doanh không chuyên)
   Xoadoigiamngheo Một trong những biện pháp chính để người nghèo có thể tìm kiếm lợi nhuận từ du lịch là thông qua việc bán các sản phẩm và dịch vụ, chẳng hạn như: hoa quả, đồ thủ công, hướng dẫn du lịch và họ sẽ  trực tiếp thực hiện việc cung cấp đó.

    Du khách tham quan tại các điểm đến sẽ có một số hoạt động trao đổi mua – bán nhỏ, lẻ, điều này có thể giúp nâng cao thu nhập cho người nghèo, đồng thời đem lại những trải nghiệm đầy màu sắc và bổ ích cho du khách. Cung cấp thông tin tới du khách là việc làm rất quan trọng, bên cạnh đó, trang bị cho người dân địa phương kiến thức về  yêu cầu, tiêu chuẩn sẽ giúp đảm bảo cho  sản phẩm của họ có thể đáp ứng yêu cầu của khách du lịch.

     4. Thành lập và đưa vào hoạt động các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ hoặc các tổ chức liên doanh bởi người nghèo (kinh doanh chuyên nghiệp)
     Cơ chế này bao gồm việc thành lập, quản lý tổ chức kinh doanh du lịch chuyên nghiệp hơn bởi người nghèo, không phải ở cấp độ riêng lẻ, hay cộng đồng.  Những tổ chức này có thể là các cơ sở lưu trú, ăn uống, vận chuyển, cửa hàng bán lẻ, hướng dẫn và giải trí. Lợi ích từ việc hình thành các doanh nghiệp ở cấp địa phương là tạo nên sức mạnh cũng như khả năng quản lý nằm trong tay người dân địa phương, tạo khả năng đảm bảo, duy trì các khoản đầu tư dài hạn cũng như cho phép doanh nghiệp thiết lập một quy mô hoạt động cần thiết để thu hút khách hàng.

     5. Phân phối lại số tiền thu được từ thuế hay các khoản phí từ khách du lịch hoặc các doanh nghiệp kinh doanh du lịch
     Cơ chế này liên quan đến doanh thu của quốc gia hay chính quyền địa phương từ du lịch có thể giúp giảm nghèo. Ưu điểm của cơ chế này là tất cả những người nghèo đều có thể thu lợi từ du lịch mà không cần tham gia trực tiếp vào ngành du lịch. Phạm vi mà trong đó nguồn ngân sách thu được từ du lịch hướng tới xóa đói giảm nghèo sẽ tùy thuộc vào chương trình và các ưu tiên quốc gia. Thuế và các khoản thu đều có thể đem lại nguồn thu cho địa phương, chẳng hạn như khoản thu từ khách nghỉ qua đêm đến tiền vé vào cửa các khu bảo tồn thường có thể sử dụng tất cả hay một phần làm lợi ích cộng đồng. Sự minh bạch trong việc áp dụng thuế địa phương là cần thiết, bên cạnh đó cũng cần tư vấn cho các khu vực riêng lẻ tránh áp đặt mức thuế quá cao sẽ hạn chế kinh doanh và khách du lịch đến tham quan.

     6. Du khách và các tổ chức kinh doanh du lịch tự nguyện ủng hộ, giúp đỡ người dân tại các địa phương.
     Việc tình nguyện hỗ trợ người nghèo bằng tiền hay lòng hảo tâm có thể có thể tác động lớn đến xóa đói, giảm nghèo. Nhiều nghiên cứu khác nhau đã chỉ ra rằng, trong số khách du lịch, nhiều người sẵn sàng làm một điều gì đó có ích đối với địa phương mà họ vừa tham quan. Một số doanh nghiệp du lịch cam kết tài trợ cho dự án phát triển của địa phương nơi họ hoạt động.  Các tổ chức địa phương hay tổ chức phi chính phủ có thể giúp đỡ trong việc tạo cơ chế thuận lợi thu hút đầu tư, tài trợ. Đề án đã chỉ ra rằng, địa phương và cộng đồng hoàn toàn có cơ hội lớn trong việc thu hút tài trợ, giúp đỡ từ du khách.

     7. Đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng thông qua du lịch, đồng thời đem lại lợi ích cho người nghèo ở địa phương, trực tiếp hoặc thông qua sự hỗ trợ của các lĩnh vực khác
     Phát triển ngành du lịch, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng mới khai thác, có thể bao gồm cả công tác đầu tư cơ sở hạ tầng, chẳng hạn như xây dựng đường xá, hệ thống cung cấp nước và năng lượng, vệ sinh môi trường và phát triển văn hóa cộng đồng. Với việc lập kế hoạch một cách cẩn thận, cơ sở hạ tầng sẽ đem lại những lợi ích tích cực đến với người nghèo thông qua cung cấp cho họ những dịch vụ cơ bản, mở ra đường giao thông và tiếp cận nhanh hơn với thị trường. Thách thức chính ở đây là cần đảm bảo việc phát triển du lịch không làm tổn hại những giá trị của địa phương, ngược lại phải mang đến những cơ hội tiếp cận mới cho cộng đồng.

Phòng QLKH & HTQT

Tham khảo tại: http://step.unwto.org/en/content/seven-st-ep-mechanisms

1.    Kinh nghiệm của Nhật Bản về bảo tồn di sản và du lịch
1.1    Phác thảo khung pháp lý
     Hệ thống quản lý về bảo tồn di sản văn hóa tại Nhật Bản được hình thành từ những năm 1910 với việc ban hành luật Bảo tồn di tích lịch sử - danh lam thắng cảnh tự nhiên, luật Bảo tồn nguồn tài nguyên quý hiếm quốc gia năm 1929, luật Bảo vệ tài sản Văn hóa năm 1950.
     Luật Bảo vệ tài sản văn hóa được sửa đổi năm 1975, hệ thống các khu bảo tồn nằm trong các nhà truyền thống cũng được giới thiệu trong luật sửa đổi. Hệ thống này bao gồm các địa danh lịch sử như: làng chài, làng nghề truyền thống, cảng biển, đền chùa…. Hiện tại, hơn 100 địa danh đã được công nhận là khu di tích cổ quan trọng của Nhật Bản, những nơi này đang trở thành những điểm du lịch nổi tiếng. Vào những năm gần đây, trong bộ luật quy hoạch thành phố lịch sử ban hành năm 2008, các vấn đề giữa phát triển vùng và bảo tồn di sản văn hóa có thể được giải quyết song song trong cùng một chính sách.
     Về du lịch, bộ luật xây dựng đất nước du lịch đã được ban hành năm 2006, cơ quan du lịch Nhật Bản được thành lập năm 2008.
     Từ bối cảnh trên, các biện pháp quản lý với di sản văn hóa được thực hiện trước, các biện pháp đối với du lịch được thực hiện ngay sau đó. 

Giai đoạn Sự kiện
Từ những năm 1910 tới những năm 1970

Hình thành khung chính sách về bảo tồn di sản văn hóa

1919: Luật bảo tồn khu vực lịch sử, công trình kiến trúc lớn, kỳ quan lớn
1929: Luật bảo tồn di sản quốc gia
1950: Luật bảo vệ tài sản văn hóa
1963: Luật du lịch
1966:Luật đặc biệt bảo tồn khu vực lịch sử trong các thành phố cổ

 

Từ những năm 1970 tới cuối những năm 1980

Sử dụng các di sản văn hóa cho mục đích du lịch

1970s: Khởi động chiến dịch “khám phá Nhật Bản”
1970s: phát triển bảo tồn lịch sử bằng các hoạt động cộng đồng
1970s: phân loại nguồn lực cho hoạt động du lịch theo mức độ quốc gia
1975:Sửa đổi luật bảo vệ các tài sản văn hóa
1975:thiết lập hệ thống bảo tồn các khu vực có các tòa nhà truyền thống
1978: Khởi động các cuộc hội thảo quốc gia hàng năm tại các khu vực được bảo tồn

Cuối những năm 1980 tới những năm 2000

Phân bổ lợi nhuận từ hoạt động du lịch của các di sản văn hóa tới cộng đồng

・Gia tăng số lượng khu vực bảo tồn của các tòa nhà cổ
・Khuyến khích các họat động quảng bá văn hóa bởi các cơ quan chính quyền địa phương
・Khởi động hệ thống đăng ký/ghi danh cho các di sản văn hóa

Từ những năm 2000 tới nay

Trao quyền cho cộng đồng với sự phát triển du lịch

2003: Tuyên bố của Chính phủ về xây dựng một đất nước du lịch.
2004: Sửa đổi luật bảo vệ tài sản văn hóa
2006: Luật cơ bản về quảng bá du lịch quốc gia
2007: Luật quảng bá du lịch sinh thái
2008: Luật phát triển các điểm đến du lịch. Thiết lập các cơ quan du lịch Nhật Bản

Bảng 1: Các giai đoạn liên quan đến bảo tồn di sản và phát triển du lịch

1.2. Quá trình phát triển của bảo tồn di sản văn hóa và du lịch tại Nhật Bản
Cùng với khung chính sách được đề cập ở trên, dưới đây là một vài thành tựu chính mà Nhật Bản đã đạt được cho tới thời gian này.
Giai đoạn 1: từ những năm 1910 tới những năm 1970: Hình thành khung chính sách về bảo tồn di sản văn hóa
Giai đoạn này là bước đầu tiên mà chính phủ Nhật Bản hình thành khung chính sách về bảo tồn di sản văn hóa. Hệ thống của việc cung cấp các khoản trợ cấp cho việc việc trùng tu cũng được thực hiện.
Thành tựu chính:
•    Thiết lập hệ thống bảo vệ các tài sản văn hóa
•    Hệ thống tích hợp ban đầu về bảo tồn di sản văn hóa và kế hoạch cho đô thị - nông thôn
•    Hệ thống trợ cấp cho việc bảo tồn các tài sản văn hóa đã được triển khai
Giai đoạn 2: Từ những năm 1970 tới cuối những năm 1980: Sử dụng các di sản văn hóa cho hoạt động du lịch
Trong giai đoạn này, Việc chuyển hướng sang cải tạo các tòa nhà lịch sử (đài kỷ niệm, nhà hàng, cà phê ) và sử dụng chúng như phương tiện du lịch bước đầu đã được thực hiện. Ý tưởng về việc phát triển kinh tế thông qua các hoạt động du lịch đã được quảng bá rộng rãi đến cộng đồng.
Thành tựu chính:
•    Chiến dịch “khám phá Nhật Bản”, sự gia tăng nhanh chóng về số lượng của các chuyến viếng thăm và khám phá truyền thống Nhật Bản, hình ảnh của các làng cổ đã được sử dụng để làm băng rôn cho chiến dịch
•    Phân cấp các khu vực văn hóa quốc gia, định mức các khu vực du lịch  như “Mức độ đặc biệt loại A” “loại B”. Sách ảnh “Nhật bản tươi đẹp – nơi nên ghé thăm ít nhất một lần”, cái mà kích thích động lực du lịch của cộng đồng.
•    Để khởi động chương trình bảo tồn các địa danh lịch sử nơi có các tòa nhà lịch sử. Nhiều trường đại học đã khảo sát tại các toà nhà lịch sử trước khi nhận diện ra các địa danh lịch sử của hệ thống.
•    Hội thảo quốc gia về việc bảo tồn lịch sử. Thu thập và cung cấp thông tin cho các tổ chức cộng đồng và cơ quan chính quyền địa phương, học hỏi lẫn nhau trong việc bảo tồn.
Giai đoạn 3: Cuối những năm 1980 tới những năm 2000: Chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch với cộng đồng
Giai đoạn này, để đưa ra một cơ chế để tạo ra lợi nhuận du lịch với mục đích bảo vệ môi trường, sự phát triển cơ sở hạ tầng vùng miền đã được nhấn mạnh nhằm hướng tới môi trường xã hội và trường sống tốt đẹp hơn.
Thành tựu chính:
•    Những khu trung tâm du lịch được phát triển thông qua việc chuyển đổi các tòa nhà lịch sử thành các bảo tàng, nhà hàng, khách sạn để chào đón khách du lịch từ trong và ngoài khu vực. Ví dụ, ở thành phố Nagahama - Shiga Prefecture, một nhà kho cũ đã được cải tạo và sử dụng như là một nhà trưng bày lớn. Gần đây, hơn 2 triệu khách du lịch đã đến thăm quan nhà trưng bày này.
•    Khởi động những hoạt động bảo tồn và du lịch cộng đồng . Nhóm cộng đồng đã thành lập và bắt đầu xây dựng nguyên tắc về  hoạt động du lịch và bảo tồn.
•    Khu vực bảo tồn và các tòa nhà lịch sử được thương hiệu hóa, những địa danh lịch sử được quảng bá như là các điểm đến du lịch.
Giai đoạn 4 : Từ những năm 2000 tới nay: Trao quyền cho cộng đồng với sự phát triển du lịch
Nhờ việc có rất nhiều khách du lịch tới thăm quan, cộng đồng địa phương nhận ra giá trị và nét đẹp của môi trường sống, lịch sử của họ. Du lịch đã góp phần phát triển một mạng lưới nhân lực văn hóa, xã hội tốt đẹp hơn.
Các thành tựu chính:
•    Ban hành luật đất đai, luật quy hoạch địa danh lịch sử. Hệ thống tích hợp giữa sự phát triển vùng miền và bảo tồn di sản văn hóa đã được thiết lập để xây dựng một môi trường sống tốt đẹp hơn.
•    Thương hiệu hóa phong cách sống - một khái niệm mới, “Địa điểm du khách muốn tới thăm” là “nơi mà người dân địa phương đang sống một cách sôi động” đã được giới thiệu, khách du lịch có thể trải nghiệm cuộc sống địa phương và du lịch tại điểm đến như là sống trong một cộng đồng cởi mở.
1.3    Bài học rút ra từ kinh nghiệm của Nhật Bản
     Dựa trên những phân tích từ kinh nghiệm của Nhật Bản, các mục sau có thể được xem như bài học cho Việt Nam trong phát triển du lịch bền vững và phát huy giá trị di sản văn hóa.
(1)    Hoạt động bảo tồn nên được quản lý tốt hơn để tiếp đón du khách
     Một trong những điều kiện quan trọng có tính chất quyết định trong việc phát triển du lịch bền vững là việc sử dụng các di sản văn hóa. Mô hình các điểm du lịch di sản văn hóa thành công bao gồm:
i. Quản lý và bảo tồn hệ thống di sản văn hóa,
ii. Duy trì chất lượng của di sản văn hóa để thu hút du lịch,
iii. Nhận thức của cộng đồng địa phương và chính quyền về tầm quan trọng của bảo tồn với phát triển bền vững.
(2)    Cân bằng mối quan hệ tốt đẹp giữa Khách (du khách) và Chủ (cộng đồng địa phương)
     Việc sử dụng một cách bền vững di sản được cho là sẽ phát triển hài hòa được cả 3 mặt:  
i.    Tái sinh các điều kiện kinh tế xã hội.
ii.    Nâng cao mức sống.
iii.    Bảo tồn được tài sản văn hóa. Du lịch mang lại một nguồn doanh thu cho cộng đồng địa phương và cộng đồng địa phương có thể sử dụng doanh thu đó cho việc bảo tồn và cải thiện đời sống thì có thể mang lại một phong cách sống độc đáo hơn thu hút du khách.

Andos present
Phân tích mối quan hệ giữa khách (du lịch) và chủ (cộng đồng)


i.    Làm cho thị trấn hoặc ngôi làng trở thành một nơi hấp dẫn để sinh sống hoặc tham quan.
     Để phát triển du lịch bền vững cần phải hội đủ hai điều kiện:
     Thứ nhất, người dân phải có các hoạt động đời sống năng động và phong phú. Chính vì vậy du khách có thể thưởng thức lối sống truyền thống nhưng không kém phần năng động của họ. Thứ hai là cho khách du lịch, khu du lịch phải có những nơi để du khách thăm quan, để ăn uống, để vui chơi, để đi bộ, để trải nghiệm bằng cách sử dụng di sản văn hóa và các tài nguyên du lịch của địa phương. Vì vậy, du khách sẽ có thể đồng thời đi du lịch và trải nghiệm cuộc sống tại địa phương.
2    Nghiên cứu áp dụng cho trường hợp của Việt Nam
2.1    So sánh hệ thống và những thách thức giữa Việt Nam và Nhật Bản.
     Khi so sánh hệ thống luật pháp giữa hai quốc gia, thậm chí là cả cấu trúc xã hội cũng có khác nhau, tuy nhiên cũng có sự tương đồng về tinh thần pháp luật và định nghĩa về tài sản văn hóa và du lịch, bao gồm cả những quan điểm về bảo tồn.
     Do sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế và sự phát triển về đất đai, sự phát triển cần được xem xét như vừa là tiềm năng vừa là thách thức mà Việt Nam phải đối mặt trong tương lai gần. Một làn sóng du lịch lớn đã đến với Việt Nam, những điểm du lịch sẽ bị mất đi giá trị di sản văn hóa nếu nó không được quản lý, bảo tồn một cách phù hợp. Việt Nam và Nhật Bản có thể chia sẻ kinh nghiệm và tiến hành các thảo luận cần thiết để giải quyết các vấn đề, các thách thức mà hai bên gặp phải.
2.2    Trường hợp phát triển du lịch ở làng cổ Đường Lâm
     Tại thủ đô Hà Nội, Nhật Bản đã hợp tác với Việt Nam trong việc bảo tồn và phát triển du lịch ở Làng cổ Đường Lâm thông qua việc tiến hành nghiên cứu khoa học cũng như cử chuyên gia Nhật Bản và tình nguyện viên về bảo tồn và phát triển du lịch dựa vào cộng đồng từ năm 2003.
     Làng cổ Đường Lâm cách Hà Nội khoảng 50 km về phía Tây từ trung tâm Hà Nội. Đường Lâm là một ngôi làng nông nghiệp đặc trưng của Đồng bằng Bắc Bộ trong đó hàm chứa nhiều ngôi nhà truyền thống và các hoạt động nông nghiệp. Đường Lâm đã được công nhận là di sản văn hóa quốc gia vào năm 2005.
     Sau khi được công nhận là di sản văn hóa quốc gia, số lượng khách du lịch đến đây đã tăng lên (Hình 2). Số lượng các hộ gia đình hoạt động dịch vụ du lịch như nhà hàng, làm kẹo truyền thống, bán hàng lưu niệm cũng ngày càng tăng. JICA gần đây đã tạo ra một bản đồ du lịch của làng với sự phối hợp của người dân địa phương và Ban quản lý di tích để giới thiệu không chỉ điểm di tích mà còn giới thiệu các dịch vụ du lịch của người dân địa phương bao gồm: trải nghiệm về sản xuất hàng hóa ở địa phương, du lịch nghỉ tại nhà dân, trải nghiệm  nông trại và trải nghiệm về quán ăn làng quê.
     Ý tưởng của bản đồ du lịch là để tạo ra sự tương tác giữa khách du lịch và cộng đồng địa phương nhằm tạo ra một mối quan hệ tốt giữa hai bên. Thực tế là trong trường hợp của Đường Lâm, những kinh nghiệm của Nhật Bản sẽ là hữu ích trong bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề truyền thống, sử dụng một số ý tưởng sau:
     Các ý tưởng chủ đạo:

  • Hoạt động bảo tồn nên được quản lý tốt, sau đó đến đón tiếp du khách
  • Giữ mối quan hệ tốt đẹp giữa Khách (Du khách) và Chủ ( Cộng đồng)
  • Làm cho ngôi làng trở thành một địa điểm hấp dẫn du khách đến sinh sống hoặc thăm quan

     Sắp tới, lượng du khách đến làng sẽ tăng lên nhanh chóng do vị trí gần trung tâm Hà Nội và sự hấp dẫn của các yếu tố thôn quê và truyền thống mà nó có. Các ý tưởng cơ bản trên sẽ giúp cho sự phát triển bền vững của làng.

Năm  Số lượng du khách
2008 13,800
2009 27,370
2010 37,930
2011 57,453
2012 70,112

Bảng 2: Số lượng du khách đến làng cổ Đường Lâm
(Nguồn: Ban quản lý dự án khu di tích làng cổ Đường Lâm)
3. Khuyến nghị
     Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên du lịch đa dạng và phong phú, không chỉ ở khu vực thành thị mà còn ở cả khu vực nông thôn. Khu vực xung quanh thành phố Hà Nội cũng là nơi có nhiều làng nghề thủ công truyền thống sở hữu nhiều di sản thiên nhiên và văn hóa độc đáo. Người ta cho rằng những nguồn tài nguyên du lịch này cần được bảo tồn và tích cực sử dụng cho du lịch. Du lịch có thể mang lại kết quả tích cực nhưng nó cũng đem đến nhiều tiêu cực. Cần một sự hợp tác giữa cộng đồng địa phương và các cơ quan, đơn vị liên quan đến du lịch, nhằm mục đích giảm thiểu tối đa những tiêu cực và phát huy tối đa những tích cực mà nó mang lại để phát triển “Các địa danh du lịch mang bản sắc văn hóa Việt Nam”.

Ando Katsuhiro - Chuyên gia/ Phát triển du lịch - Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản

Phòng QLKH & HTQT biên dịch

 

Thứ tư, 17 Tháng bẩy 2013 12:49

Bài học về bảo vệ “di sản sống” của Namibia

Tác giả :

Rất nhiều người đã biết Namibia là thiên đường du lịch dành cho những du khách đam mê khám phá cuộc sống hoang dã, song không phải ai cũng biết rằng đất nước phía Tây Nam châu Phi này đã phải nỗ lực rất nhiều để bảo vệ môi trường sống và những loài động vật hoang dã.

Du lịch làng nghề của Thái Lan

Làng nghề thái lan

Việc tổ chức lại các làng nghề truyền thống ở Thái Lan đã tạo ra giá trị nhiều mặt: bảo tồn và nâng cao kỹ năng tay nghề nghệ nhân, gìn giữ văn hóa truyền thống, tạo công ăn việc làm ở nông thôn ngăn chặn làn sóng di cư vào đô thị, tạo ra sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm du lịch.
Thái Lan có khoảng 70.000 làng nghề thủ công. Để khai thác kỹ năng của các làng nghề truyền thống ở miền bắc Thái Lan, tạo ra thêm thu nhập, giải quyết lao động địa phương, từ năm 2001, Chính phủ Thái Lan đã thực hiện dự án OTOP (One Tambon One Product: mỗi làng nghề một sản phẩm). Đây là chương trình chiến lược từ sáng kiến của Cục xúc tiến xuất khẩu (DEP) thuộc Bộ Thương mại Thái Lan. Mỗi làng nghề một sản phẩm không có nghĩa là mỗi làng chỉ có một sản phẩm mà mỗi làng có kỹ năng, văn hóa, truyền thống... riêng kết tinh trong sản phẩm trở thành đặc trưng riêng của làng nghề trong sản phẩm. Chính phủ hỗ trợ kết nối địa phương với toàn cầu, thông qua việc hỗ trợ tiêu chuẩn hóa sản phẩm, hoàn tất đóng gói, tiếp thị, tổ chức kênh phân phối ở hải ngoại.
Ý tưởng ‘mỗi làng một sản phẩm’ (One Village One Product Movement) viết tắt là OVOP được Morihiko Hiramatsu khởi xướng và bắt đầu triển khai ở quận Oita (Nhật Bản) từ năm 1979. Sau đó, một số nước ở Châu Á đã áp dụng mô hình này và được đổi thành OTOP (One Town One Product, hoặc One Tambon One Product), có nghĩa là mỗi thị trấn hay mỗi địa phương một sản phẩm.
Thái Lan là nước phát triển OTOP rất thành công. Với chính sách khuyến khích và hỗ trợ của cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra, hiện nay ở Thái Lan có khoảng 36.000 mô hình OTOP, mỗi mô hình tập hợp từ 30 đến 3.000 thành viên tham gia. Sự phát triển OTOP đã giúp nghề thủ công truyền thống của Thái Lan được duy trì. Nó đã giúp cho người dân Thái giải quyết được công ăn việc làm, làm ra nhiều sản phẩm đặc sắc của từng địa phương, góp phần tăng thu nhập cho người dân tham gia và điều quan trọng là giữ được giá trị tri thức truyền thống trong văn hóa lâu đời của họ. Ở Trung Quốc mô hình OTOP cũng đã bắt đầu từ năm 1989. Riêng ở Đài Loan đã có khoảng 100 trung tâm OTOP, làm ra trên 1.000 loại sản phẩm.
Thủ tướng Thaksin cho biết chính phủ Thái Lan sẽ tiếp tục giúp các cộng đồng địa phương nâng cao chất lượng sản phẩm theo chương trình OTOP để có thể tăng doanh thu thông qua việc chỉ thị cho các trường đại học mở các phòng vi-tính tạo phần mềm thiết kế các mẫu sản phẩm OTOP, đồng thời lập ra các trang thông tin nhằm giúp khách hàng nước ngoài có thể đặt mua hàng qua mạng. Ngoài ra, chính phủ cũng sẽ giúp tổ chức các chuyến du lịch tới các làng nghề để du khách nước ngoài có thể tận mắt thấy được các sản phẩm OTOP được sản xuất như thế nào.
Ngoài mục đích phát triển du lịch, một khía cạnh tích cực hơn, mô hình OTOP cần khuyến khích người dân sử dụng nguồn nguyên liệu có sẵn tại chỗ, dựa vào tri trức truyền thống bản địa để làm ra sản phẩm đặc trưng của địa phương mình. Ngoài ý nghĩa kinh tế, đây là cách bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên ở địa phương, và giữ gìn tri thức bản địa một cách hiệu quả.

Du lịch làng nghề tại Hà Nội

Đến nay với việc tiếp nhận toàn bộ địa bàn tỉnh Hà Tây - vùng đất được mệnh danh là “đất trăm nghề” - Hà Nội đã trở thành nơi hội tụ của sự tài hoa, khéo léo trong ngành thủ công mỹ nghệ cả nước. Những làng nghề truyền thống không chỉ mang lại việc làm cho nhân dân, sản xuất hàng hóa phục vụ xã hội mà còn góp phần đáng kể vào công cuộc phát triển kinh tế, thay đổi diện mạo nông thôn, đặc biệt đã và đang trở thành những khu, vùng, điểm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.

gốm BT

Nhằm khai thác tiềm năng du lịch, dịch vụ của các làng nghề truyền thống, Hà Nội đã xây dựng chương trình phát triển du lịch làng nghề. Hà Nội cũng định hướng hình thành mới 6 khu du lịch tổng hợp: Khu du lịch sinh thái và vui chơi giải trí Tuần Châu, khu du lịch sinh thái cao cấp An Khánh, hồ Quan Sơn, hồ Đồng Mô, hồ Suối Hai- Ba Vì và khu du lịch lịch sử- văn hóa làng cổ Đường Lâm. Song song với việc tiếp tục đẩy mạnh đầu tư khai thác tiềm năng du lịch tại 6 điểm di tích lịch sử- văn hóa, lễ hội là xây dựng 1 trung tâm dịch vụ du lịch làng nghề truyền thống, đầu tư phát triển 3 làng nghề thành các điểm du lịch: nghề tạc tượng ở Sơn Đồng, nghề khảm Chuyên Mỹ và mây tre đan Phú Vinh.
Tuy nhiên, để phát triển du lịch làng nghề đòi hỏi phải có sự kết nối sâu rộng hơn giữa các làng nghề để khai thác triệt để những tiềm năng còn bỏ ngỏ. Đây còn là phương thức nhân lên sức mạnh thương hiệu, góp phần giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển làng nghề trong hội nhập. Nhưng trên thực tế, những người lao động trong các làng nghề vốn chưa quen làm du lịch, dịch vụ, nên còn hạn chế trong cung cách phục vụ. Do đó, vấn đề cần được quan tâm khi phát triển loại hình du lịch này là cần có định hướng và sự hỗ trợ tích cực từ các cấp, ngành hữu quan. Đặc biệt là phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, có giải pháp quản lý chất lượng dịch vụ từ các khâu chuyên chở, phục vụ, đón tiếp, hướng dẫn và điều hành, đồng thời có biện pháp hữu hiệu để loại bỏ các tệ nạn trong khu vực di tích, lễ hội, nhằm tạo cảm giác thoải mái và an toàn cho du khách. Bên cạnh đó, xây dựng từng loại hình du lịch phù hợp, tạo ra các sản phẩm du lịch đa dạng, đáp ứng nhu cầu của từng đối tượng khách du lịch.
Được biết, thời gian qua, Hà Nội đã đưa vào khai thác tour thăm quan các làng nghề, song nhìn chung khách đi tour này còn quá ít. Theo đánh giá, hiện việc phát triển các tour du lịch làng nghề trên địa bàn Thủ Đô còn nhiều khó khăn, nhất là vấn đề cơ sở hạ tầng, giao thông, phong cách phục vụ thiếu sự chuyên nghiệp…
Để hỗ trợ các làng nghề phát triển nhanh, mạnh và bền vững, nhất là khai thác tiềm năng du lịch, dịch vụ, trong năm 2009, Sở Công Thương Hà Nội đã thực hiện nhiều hoạt động nhằm hỗ trợ phát triển nghề và làng nghề, điển hình như thực hiện đánh giá thực trạng môi trường làng nghề lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy. Tổ chức thu thập thông tin về các làng nghề để xuất bản sách và sản xuất phim giới thiệu về tiềm năng phát triển nghề và làng nghề… Đặc biệt, từ nguồn kinh phí khuyến công quốc gia và khuyến công địa phương, Trung tâm Khuyến công Hà Nội đã tổ chức được 45 lớp đào tạo truyền nghề, nhân cấy nghề mây tre đan, thêu ren, sơn mài, dệt khăn, điêu khắc… cho 2.250 học viên, triển khai 7 chương trình lớn tập trung vào công tác truyền nghề, nhân cấy và nâng cao tay nghề, hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các làng nghề, nâng cao kỹ năng quản trị cho các chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất…; tổ chức cho doanh nghiệp tham gia hội chợ triển lãm, giới thiệu sản phẩm làng nghề nhằm quảng bá và xúc tiến đầu tư, liên kết kinh doanh, hợp tác sản xuất giữa các vùng và địa phương, tạo tiền đề quan trọng để các làng nghề bảo tồn, phát triển các giá trị văn hóa ngày càng hiệu quả.

Bắc Ninh

LNBN

Hầu hết các làng nghề ở Bắc Ninh có lịch sử phát triển lâu dài, thậm chí đã tìm thấy dấu tích làng nghề từ những thế kỷ trước công nguyên. Ở thiên niên kỷ sau công nguyên, đã hình thành những trung tâm làng nghề bao quanh thủ phủ Luy Lâu - Long Biên. Trong thời kỳ phong kiến Việt Nam, nhất là thời Lý - Trần - Lê, nghề thủ công và các làng nghề phát triển rộng khắp. làng nghề thủ công ở đây thật sự phong phú, đa dạng từ việc chế biến nông sản, thực phẩm làm các món ăn đặc sản, sản xuất các vật dụng gia đình, chế biến tạo công cụ sản xuất nông nghiệp, đến làm các mặt hàng mỹ nghệ, các sản phẩm phục vụ cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, sinh hoạt lễ hội, các sản phẩm nghệ thuật, làm các nghề xây dựng nhà cửa, đình, chùa, đền miếu...
Toàn tỉnh Bắc Ninh có 62 làng nghề thủ công, trong đó có 31 làng nghề thủ công truyền thống. Trong số đó, hiện có 28 làng nghề phát triển ổn định với 25 làng nghề truyền thống. Lượng khách du lịch đến tham quan các làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh khoảng từ 20 đến 25 nghìn lượt khách mỗi năm, chiếm tỷ lệ 11% đến 14% khách du lịch đến Bắc Ninh. Một số làng nghề bước đầu đã thu hút được khách như Gốm Phù Lãng, Tranh Ðông Hồ, Gỗ Ðồng Kỵ, làng quan họ cổ Diềm... Bên cạnh việc được chiêm ngưỡng và tự tay tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm truyền thống, du khách còn đồng thời được khám phá những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc luôn gắn liền với lịch sử phát triển của sản phẩm làng nghề. Các di tích lịch sử văn hóa làng nghề đã được quan tâm tu bổ, tôn tạo, nhiều di tích tiêu biểu như đình, chùa, đền, nhà thờ tổ sư đã được Nhà nước cấp bằng công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh như: lăng mộ tổ sư nghề đồng Nguyễn Công Truyền ở Ðại Bái, lăng mộ và đền thờ tổ sư nghề đúc đồng Nguyễn Công Nghệ ở Quảng Bố, đình chùa làng Ðồng Kỵ, đình đền làng Trang Liệt, đền thờ Thái bảo Quận công Trần Ðức Huệ ở Ða Hội, đình chùa làng Phù Lưu, đình Ðình Bảng, đền Ðô, đình làng Dương Ổ...
Tuy nhiên việc phát triển du lịch làng nghề ở Bắc Ninh còn bộc lộ nhiều khó khăn, hạn chế, để khắc phục và thúc đẩy tốc độ trăng trưởng du lịch làng nghề trong thời gian tới, du lịch Bắc Ninh đang hướng vào triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ. Trong đó tiếp tục hoàn thiện quy hoạch hệ thống các làng nghề phục vụ du lịch và đẩy mạnh đầu tư nhằm hoàn thiện đồng bộ để hình thành ở mỗi làng nghề là một điểm đến. Trong đó, ưu tiên cải tạo và xây dựng mới cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho làng nghề gắn với chương trình văn hóa nông thôn mới, tập trung vào hệ thống công trình giao thông đi lại trong từng làng nghề... quá trình đầu tư có tính đến sự phù hợp của hệ thống đối với cảnh quan tự nhiên của các làng nghề nhằm thu hút khách du lịch.
Ðẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá về du lịch làng nghề như tổ chức tham gia các hội chợ triển lãm, hội chợ du lịch trong nước và quốc tế. Giới thiệu thông tin chi tiết về các sản phẩm làng nghề trên các tạp chí, các phương tiện thông tin đại chúng, các sách báo, ấn phẩm mà khách du lịch thường quan tâm theo dõi. Ðẩy mạnh việc trưng bày, Giới thiệu sản phẩm ở các thành phố, đô thị lớn là nơi tập trung nhiều du khách. Các cửa hàng trưng bày này có thể kết hợp Giới thiệu về những truyền tích, giai thoại về các vị tổ sư, những người thợ cùng với kinh nghiệm kết tinh trí tuệ nét đẹp văn hóa của những làng nghề.
Tập trung đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về du lịch để hình thành một đội ngũ du lịch tại chỗ theo hai hướng: hình thành đội ngũ quản lý và điều hành hoạt động du lịch tại làng nghề; huy động cộng đồng dân cư tại làng nghề tham gia vào quá trình hoạt động du lịch. Trong đó, ưu tiên vinh danh những nghệ nhân và khuyến khích những nghệ nhân này trực tiếp hướng dẫn khách du lịch tham gia vào quá trình hướng dẫn sản xuất sản phẩm cho các du khách.
Ða dạng hóa sản phẩm làng nghề, tập trung sản xuất các mặt hàng có giá trị nghệ thuật, phù hợp với thị hiếu của du khách. Hầu hết du khách khi đi du lịch ít khi mua các sản phẩm có kích thước và trọng lượng lớn. Họ thường có xu hướng mua các sản phẩm vừa và nhỏ, độc đáo, lạ mắt, có giá trị nghệ thuật để làm đồ lưu niệm hoặc làm quà cho người thân. Các làng nghề cần tìm hiểu nắm bắt được nhu cầu này của khách du lịch để tạo ra các sản phẩm phù hợp. Ðối với Một số làng nghề, khi khách du lịch tới tham quan các cơ sở sản xuất có thể hướng dẫn họ tự làm Một số sản phẩm đơn giản. du khách thường tìm hiểu quy trình sản xuất, cách làm và đặc biệt thích tự tay mình làm được một sản phẩm nào đó dù rất đơn giản dưới sự hướng dẫn của các nghệ nhân hay những người thợ ở đây. Khi đó những trải nghiệm mà du khách có được sẽ càng có giá trị và ấn tượng mạnh mẽ về chuyến đi. Nó cũng sẽ tạo nên sự khác biệt, điểm nhấn độc đáo của chuyến tham quan.
Liên kết xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các công ty du lịch của tỉnh và các địa phương khác để xây dựng sản phẩm, thường xuyên cập nhật thông tin và có nguồn khách ổn định. Các đơn vị kinh doanh lữ hành cần phối hợp cơ quan quản lý Nhà nước tổ chức tốt các tua du lịch làng nghề để thông qua du khách có thể quảng bá sản phẩm bằng hình thức truyền miệng từ người này sang người khác.

Thừa Thiên – Huế

LNHue

Với định hướng phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Thừa Thiên Huế đang phấn đấu thực hiện mục tiêu đề ra: đón ba triệu khách vào năm 2015, trong đó có gần 50% khách quốc tế. Để đạt mục tiêu trên, vấn đề đặt ra là đẩy mạnh liên doanh, liên kết, tích cực thu hút các nguồn vốn trong nước và ngoài nước để triển khai lồng ghép các tour, tuyến du lịch gây ấn tượng.
Mấy năm gần đây, tỉnh quan tâm đến tour du lịch làng nghề, xem đây là loại hình du lịch văn hóa tổng hợp đưa du khách tham quan, thẩm nhận các giá trị văn hóa và mua sắm những hàng hóa đặc trưng của các làng nghề truyền thống.
Toàn tỉnh có 88 làng nghề, trong đó có 69 làng nghề thủ công truyền thống có thể xây dựng và phát triển thành các tour du lịch làng nghề với nét đặc trưng riêng như làng gốm Phước Tích, làng thêu Thuận Lộc, làng nón Phú Cam, đúc đồng Phường Đúc, điêu khắc Mỹ Xuyên, đan lát Bao La…
Vào những năm lẻ, Thừa Thiên Huế có festival nghề truyền thống là dịp phô diễn, quảng bá sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Đây cũng là điểm nhấn để hình thành tour du lịch làng nghề. Điểm lại hoạt động khai thác tuyến du lịch làng nghề, thấy rằng công việc hãy còn là sự khởi động ban đầu. Việc đầu tư, tổ chức khai thác tuyến du lịch làng nghề vẫn còn nhiều hạn chế, nhất là việc tổ chức kết nối các làng nghề truyền thống để đưa vào các hoạt động du lịch nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập ổn định cho người dân làng nghề và cơ hội kinh doanh bền vững cho các doanh nghiệp du lịch.
Các nhà quản lý chuyên ngành du lịch cho rằng, tuyến du lịch làng nghề là xu hướng thu hút du khách, nó tạo sự hấp dẫn, mới lạ. Rất nhiều du khách đã về tận các làng nón để được tận mắt chứng kiến và tham gia vào các công đoạn của nghề làm nón. Du khách đã thật sự bất ngờ, thích thú khi được người thợ nón lưu tên, ảnh của họ vào chiếc nón bài thơ mang về làm vật kỷ niệm của chuyến du lịch về vùng đất Cố đô Huế. Khi các làng nghề đã có thương hiệu trên thị trường sẽ tạo nên sức mạnh giúp giải quyết được một lượng lớn lao động thu nhập thấp ở nông thôn có việc làm ổn định, tăng thu nhập. Đây cũng là hướng đi góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông thôn theo hướng xây dựng hình ảnh nông thôn mới.
Phát triển ngành nghề truyền thống, chú ý tour du lịch làng nghề cần có cơ chế chính sách hỗ trợ cho làng nghề bảo tồn và phát triển. Đây là vấn đề đặt ra cho nhiều ngành, nhiều cấp. Một vài hình ảnh mà Công ty Du lịch Hương Giang, Công ty Lữ hành Hương Giang khi xây dựng tour du lịch sinh thái làng quê đã nối kết được với sự phát triển của nghề truyền thống, nó khơi dậy trong người dân những suy nghĩ mới về nghề nghiệp của mình.
Những thành quả trong hướng phát triển du lịch làng nghề vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế như hiệu quả kinh doanh của du lịch vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có; tính bền vững chưa cao, sản phẩm làng nghề còn đơn điệu, chưa mang tính cạnh tranh… Đó là những vấn đề đặt ra cho các nhà hoạch định chiến lược phát triển du lịch suy nghĩ, tìm hướng phát triển để khai thác tốt nhất thế mạnh dịch vụ - du lịch của Thừa Thiên Huế. Du lịch làng nghề phải được xem là dự án phát triển trong tầm nhìn chiến lược phát triển du lịch tổng thể của tỉnh để thế mạnh này không chỉ là những nhà hàng, khách sạn, lăng tẩm trên địa bàn thành phố Huế mà nó được mở rộng ra về các làng nghề, đô thị mới ở các huyện, thị xã; làm phong phú địa chỉ tham quan du lịch, hấp dẫn du khách bốn phương.

Quảng Nam

LN.QNam

Quảng Nam có 61 làng nghề, đa dạng về quy mô và loại nghề truyền thống. Những làng nghề này sau khi khôi phục hoạt động khá tốt còn trở thành những điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.
Làng rau Trà Quế (thôn Trà Quế, xã Cẩm Hà, thành phố Hội An) là một trường hợp điển hình. Cũng những công việc hàng ngày như cuốc đất, vun luống, bón phân, gieo hạt, trồng rau… nhưng ngoài thu hoạch sản phẩm, nhà vườn ở đây còn có nguồn thu đáng kể từ du lịch. Từ năm 2003, khi tour "Một ngày làm cư dân phố cổ" ra đời, nhiều du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài, đã đến thăm Trà Quế và trực tiếp tham gia việc trồng rau với các nhà vườn.
"Sau gần 5 năm đưa vào khai thác, đến nay đã có hàng ngàn du khách trong và ngoài nước đến thăm làng rau Trà Quế và tỏ ra rất thích thú với điểm du lịch này", giám đốc một công ty du lịch cho biết.
Tại làng gốm Thanh Hà, nằm bên bờ sông Thu Bồn, thuộc xã Cẩm Hà, cách phố cổ Hội An khoảng 2km về hướng Tây, người dân nơi đây đã mở ra các dịch vụ như hướng dẫn du khách cách làm gốm từ khâu nhào đất sét, nắn hình thù đến cách nung sao cho có màu bóng đẹp không bị cháy, bị chai...
Du khách đến đây, ngoài việc tha hồ lựa chọn các sản phẩm lưu niệm bằng gốm độc đáo, còn được tận mắt chứng kiến những thao tác điêu luyện từ những bàn tay tài hoa của các nghệ nhân làng nghề này.
Gốm Thanh Hà được sản xuất hoàn toàn bằng thủ công, sản phẩm chủ yếu là đồ dùng phục vụ đời sống sinh hoạt hằng ngày như chén, bát, chum, vại, bình hoa, chậu cảnh,... Điểm đặc biệt của sản phẩm gốm Thanh Hà là nhẹ hơn so với các sản phẩm cùng loại của những địa phương khác.
Làng đúc đồng Phước Kiều cũng vậy, nằm kề bên quốc lộ 1A, thuộc xã Điện Phương huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Đây là một làng nghề truyền thống đã nổi tiếng từ nhiều thế kỷ trước với các sản phẩm bằng đồng phục vụ trong các dịp tế lễ, hội hè như chuông, chiêng, kiểng, mõ, phèng la; các vật dụng thông thường trong đời sống như lư hương, chân đèn, nồi niêu, xoong chảo, chén bát và cả các loại binh khí cổ như gươm, dao, giáo, mác...
Ông Trần Văn Quang, cán bộ phụ trách làng nghề thuộc Phòng Công Thương huyện Điện Bàn cho biết, hiện phòng đã tận dụng nguồn quỹ khuyến công của huyện đầu tư mở các lớp đào tạo nghề cho thợ trẻ, nhằm gìn giữ làng nghề truyền thống có từ lâu đời này.
Một số làng nghề khác như làng nghề dệt Mã Châu, làng dệt chiếu cói Bàn Thạch cũng khá nổi tiếng. Để duy trì được các làng nghề này, ngoài việc gắng giữ nét độc đáo truyền thống của làng nghề mình, người dân và chính quyền địa phương còn phải luôn tạo ra những sản phẩm mới mẻ, dịch vụ đa dạng để có thể thu hút được du khách.
Hiện lãnh đạo địa phương và người dân của những làng nghề này đang nỗ lực trong việc tiếp cận với khách du lịch nhằm tạo thêm nguồn thu cho người dân làng nghề, điều mà các làng nghề như làng rau Trà Quế, gốm Thanh Hà đã làm rất hiệu quả.

Theo: http://vicrafts.com

Singapore là một quốc đảo nhỏ, tài nguyên hạn chế, nhưng đã biết phát huy triệt để tiềm năng, thế mạnh về vị trí địa lý và nguồn lực con người để có những bước phát triển vượt bậc. Diện tích quốc đảo chỉ có 710 km2 nhưng có đến 5,2 triệu người đang sinh sống, làm việc ở đây, trong đó có gần 2 triệu người nước ngoài. Trong các thành công của Singapore thời gian qua phải kể đến sự thành công của chính sách phát triển du lịch.