SCREEN

Cpanel

23Tháng chín2017

   DulichmoinctdI. Nghiên cứu một số điển hình

   Năm 2017, ngành Du lịch Việt Nam ghi nhận 2 sự kiện quan trọng là sự ra đời của Nghị quyết số 08-NQ/TW do Bộ Chính trị ban hành ngày 16/1/2017 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và Luật Du lịch sửa đổi (sau đây gọi là Luật Du lịch) được Quốc hội chính thức thông qua ngày 19/6/2017 và có hiệu lực vào 1/1/2018. Trong mối tương quan giữa 3 nhiệm vụ then chốt ngành Du lịch đã thực hiện trong nhiều năm qua dưới sự hỗ trợ của dự án EU-ESRT, đó là: Xây dựng thể chế, chính sách; Nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển sản phẩm; và Đào tạo phát triển nguồn nhân lực, nhiều sản phẩm du lịch mới đã thu hút sự quan tâm của toàn ngành và của xã hội, đã có tác động tích cực góp phần làm đa dạng sản phẩm du lịch của Việt Nam, và đã khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và văn hóa bản địa và thế mạnh của địa phương. Trong bài nghiên cứu - trao đổi này, tôi lựa chọn một số sản phẩm du lịch mới hiện nay để nghiên cứu như những điển hình tốt về du lịch trong nước để đưa ra một số nhận định đối với sự phát triển sản phẩm du lịch mới nói chung trong tương lai.
   Luật Du lịch định nghĩa: Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Luật Du lịch cũng xác định chính sách phát triển sản phẩm du lịch như sau: Đầu tư phát triển sản phẩm du lịch mới có tác động tích cực tới môi trường, thu hút sự tham gia của cộng đồng dân cư; đầu tư phát triển sản phẩm du lịch biển, đảo, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa và sản phẩm du lịch đặc thù khác;
   Tôi đã chọn quan sát một số sản phẩm du lịch mới tại một số địa phương, gồm có: Du lịch cộng đồng ở xã Ngọc Chiến, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; Du lịch cộng đồng ở xã Quỳnh Sơn, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn; Tuyến phố đi bộ của Hà Nội; Tour “Áo dài Hà Nội”; Du lịch y tế ở thành phố Hồ Chí Minh.
   1. Du lịch cộng đồng xã Ngọc Chiến, huyện Mường La (Sơn La)
   Xã Ngọc Chiến là một điểm trong tuyến du lịch mới lên vùng Tây Bắc gồm Mù Cang Chải – Ngọc Chiến – Mộc Châu với tài nguyên thiên nhiên là suối nước nóng trên 700C của bản Lướt và cây Sa Mu ngàn năm tuổi cùng nhiều điểm mạnh nổi trội khác như độ cao trung binh trên 1.600m so với mực nước biển, nhiều phong tục, tập quán, món ăn có một không hai.
Nhưng có thể nói, du lịch cộng đồng ở các vùng bản làng dân tộc ở Việt Nam đã là loại hình du lịch đã quen thuộc đối với khách du lịch trong và ngoài nước. Vẫn váy áo người Thái ấy, vẫn nếp nhà sàn lợp gỗ Pơmu thơm nồng như đã thấy đâu đó ở Mai Châu, Điện Biên, Mường Lò (Yên Bái)... nhưng ở Ngọc Chiến có gì đó khác lạ.
   Giải mã cho sự khác biệt ẩn dấu ở đây là văn hóa bản địa. Người dân Ngọc Chiến có niềm tin mạnh mẽ vào truyền thuyết về một con rồng lửa giúp người dân đánh thắng các bộ lạc chuyên đi cướp bóc của cải, sau đó đã không về trời mà ở lại với họ. Nguồn suối nước nóng trời cho như chính là hơi thở ấm áp của rồng lửa vẫn đang quấn quýt bên họ, hoà sức sống của rồng vào nguồn nước quanh làng. Người dân trong bản luôn trân trọng nguồn suối nước này và họ cũng tôn trọng bản thể tự nhiên trong nguồn nước đó nên mỗi khi chiều về, sau một ngày lao động thì trai gái bản vô tư trầm mình dưới dòng suối "tiên trần nơi hạ giới" để gột bỏ đi hết những mệt mỏi, ưu phiền, được tiếp lửa sinh lực từ con suối nước nóng huyền bí này. Có lẽ chính vì vậy mà những người con gái nơi đây dường như đẹp hơn từ làn da, dáng người, các em bé dường như yêu đời hơn, sáng sủa hơn, người già trông thong dong, thảnh thơi hơn, không có dáng vẻ tất bật kiếm con cá, kiếm củ khoai, đụm củi...
   Ngoài nguồn nước “suối nguồn tươi trẻ” của bản làng mang lại sự cân bằng khỏe khoắn của cơ thể, sự sảng khoái về tinh thần, Ngọc Chiến cũng có hàng trăm nếp nhà sàn bằng gỗ Pơmu, mái gỗ ngả màu rêu xanh nằm yên bình nối tiếp nhau dưới mây chiều giăng mắc bao phủ khắp núi đồi và cánh đồng. Không cách xa nhau như ở các bản người Thái khác ở Tây Bắc, các hộ gia đình ở đây sống quần cư, thuận lợi cho việc bảo vệ nhau và làm cho cuộc sống thêm phần ấm áp, đoàn kết mà ít nơi nào có được. Khách du lịch không muốn rời đi vì có nhiều điểm hấp dẫn khác để khám phá như nghề truyền thống se tơ, dệt vải, đan lát của người Thái, lễ hội gội đầu của người Thái, hội Gầu thào của người Mông, hội dâng hoa măng của người La Ha, các làn điệu, câu hát Then với sự sùng bái Mường Trời, và cách chữa bệnh bằng các loại thảo dược độc đáo.
   Theo lời kể của gia đình bác Chinh, một gia đình đi đầu trong việc khai thác tiềm năng du lịch cộng đồng bản Lướt: Từ nhiều năm về trước, khi du lịch chưa phát triển và chưa có sự giao thoa của nhiều nền văn hóa, không gian tắm suối không lớn, mọi khoảng cách về tuổi tác, giới tính dường như không còn. Nhưng hiện nay, để thu hút và đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng khách du lịch trải nghiệm, người dân đã cho xây dựng các khu vực tắm riêng biệt cho nam, nữ của cả khách và cộng đồng.”
   Sản phẩm du lịch cộng đồng xã Ngọc Chiến được công ty du lịch Thiên đường Á châu PATTOUR thuộc Câu lạc bộ Du lịch Cộng đồng của Hiệp hội Du lịch Việt Nam đưa vào khai thác từ cuối năm 2016 hưởng ứng năm Du lịch Quốc gia Tây Bắc - Lào Cai 2017. Chắc rằng, để phát triển và bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của người dân địa phương sẽ cần những tổ chức, cá nhân tâm huyết, tham gia mạnh mẽ và sát sao cùng các bên liên quan từ quản lý nhà nước, hoạch định chính sách, đến việc tiếp thị, kết nối nguồn lực để đào tạo những kiến thức căn bản vận hành kinh doanh lưu trú du lịch tại nhà dân (homestay), dạy ngoại ngữ cho người dân để phục vụ giao tiếp với khách nước ngoài, và nhất là nâng cao nhận thức cho người dân địa phương giữ gìn bản sắc văn hoá xây dựng “du lịch có trách nhiệm” ở đây.
   2. Du lịch cộng đồng ở xã Quỳnh Sơn, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
   Từ năm 2010, Ủy ban Nhân dân tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL), Trung tâm xúc tiến du lịch tỉnh đã tiến hàn khảo sát, xây dựng mô hình làng văn hóa du lịch cộng đồng ở xã Quỳnh Sơn, huyện Bắc Sơn. Quỳnh Sơn là địa danh lưu giữ được nhiều nhà sàn truyền thống (chiếm khoảng 85% kiến trúc các hộ gia đình) của dân tộc Tày, và nhiều lễ hội của đồng bào dân tộc như lễ hội Lồng tồng (xuống đồng) ngày 12, 13 tháng Giêng âm lịch với nghi thức cầu mùa màng và các trò chơi, trò diễn dân gian; Khởi nghĩa Bắc Sơn ngày 27/9 hàng năm; Các điệu dân ca, dân vũ như hát ví, hát then, múa tán Đàn, chùa chầu…
   Từ tháng 9/2010, với 5 hộ gia đình được chọn làm thí điểm kinh doanh loại hình homestay cho tới năm 2014 đã có 40 hộ tham gia, đầu tư cải tạo nhà cửa để có thể đón được khách du lịch. Năm 2011, quỹ chương trình xúc tiến du lịch của tỉnh đã hỗ trợ các hộ tu sửa nhà ở, di dời chuồng trại, mua sắm một số trang thiết bị thiết yêu như chăn, rèm, đệm,… Năm 2012, chương trình xúc tiến du lịch của tỉnh tiếp tục hỗ trợ kinh phí cho các hộ gia đình đầu tư bổ sung cơ sở vật chất, gồm quạt máy, đệm, các dụng cụ phục vụ đội văn nghệ. Ngoài ra các hộ gia đình được chọn làm thí điểm cũng đã chủ động mua sắm các vật dụng cần thiết, tìm hiểu nghệ thuật ẩm thực địa phương. Mỗi hộ gia đình có thể phục vụ được 10-15 khách/ lượt. Xã Quỳnh Sơn đã làm các biển chỉ dẫn, biển quy ước của làng du lịch cộng đồng, khôi phục và nâng cấp hệ thống đường giao thông bằng các dự án xây dựng nông thôn mới. Đội văn nghệ xã Quỳnh Sơn được hỗ trợ một phần kinh phí để đầu tư trang phục và nhạc cụ (bao gồm 1 bộ tăng âm loa đài, 5 bộ đàn tính và xóc nhạc) để phục vụ khách du lịch với các điệu múa dân gian, múa tán đàn, hát then, hát ví. Năm 2012, xã Quỳnh Sơn đã tổ chức 1 lớp bồi dưỡng về hát then đàn tính cho các thành viên đội văn nghệ gồm 23 người.
   Nhiều hộ gia đình khác có nguyện vọng được tham gia mô hình hoạt động du lịch cộng đồng. Nhân dân có ý thức về loại hình du lịch mới và giữ gìn các nét đẹp văn hóa, chủ động xây dựng và cải tạo cảnh quan khu nhà ở, mua sắm trang thiết bị phục vụ đón khách. Tính đến tháng 6/2014, Quỳnh Sơn đón trên 762 lượt khách gồm nhiều đối tượng khác nhau như: sinh viên, cán bộ đi công tác hoặc tham quan thực tế, học tập, tìm hiểu về văn hóa địa phương…
   Kể từ khi triển khai loại hình du lịch cộng đồng ở xã Quỳnh Sơn đến nay, tình hình an ninh, trật tự địa phương luôn được đảm bảo, không có tệ nạn xã hội, nhân dân dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, có ý thức giữ gìn môi trường và cảnh quan thiên nhiên. Loại hình du lịch cộng đồng được kết hợp với du lịch tìm hiểu văn hóa lịch sử an toàn khu cách mạng Bắc Sơn để góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Điểm đến Quỳnh Sơn được giới thiệu trong phóng sự chuyên đề “Lạng Sơn - điểm đến của bạn” do VTV2 thực hiện và trong chương trình “S Việt Nam” của Đài truyền hình Việt Nam về khám phá ẩm thực bánh lá ngải, bánh trưng đen.
   Dù khách đến tham quan và mức tiêu dùng dịch vụ của địa phương còn ít nhưng hoạt động du lịch bước đầu là nguồn động viên khích lệ cho người dân địa phương tiếp tục đầu tư, xây dựng làng văn hóa du lịch cộng đồng và tăng cường tình đoàn kết giữa các hộ dân trong việc vận hành kinh doanh, chuẩn bị tiếp đón khách du lịch. Trong tương lai, chắc chắn du lịch cộng đồng xã Quỳnh Sơn cần được quan tâm hơn nữa để tăng khả năng đón khách với chất lượng dịch vụ cao hơn. Để đạt được mục tiêu này, xã Quỳnh Sơn cần có kế hoạch đầu tư nâng cấp, mở rộng số lượng các hộ dân có khả năng tham gia kinh doanh loại hình homestay đạt chuẩn. Quan trọng và cấp thiết hơn nữa là việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ du lịch cho đội ngũ lao động làm công tác du lịch trên địa bàn xã, và người dân địa phương.
   3. Tuyến phố đi bộ của Hà Nội
   Tuyến phố đi bộ của Hà Nội lần đầu triển khai thực hiện chính thức từ 3/1/2014 với 6 tuyến phố đi bộ mới gồm Hàng Buồm, Mã Mây, Hàng Giầy, Lương Ngọc Quyến, Tạ Hiện, Đào Duy Từ. Tháng 10/2016, không gian đi bộ được mở rộng thêm 9 tuyến phố mới gồm 7 phố và 2 ngõ, bao gồm phố Hàng Chiếu, ngõ Gạch, Nguyễn Siêu, Đào Duy Từ (đoạn từ Hàng Buồm đến Hàng Chiếu), ngõ Cầu Gỗ, phố Hàng Bạc, Đinh Liệt, Gia Ngư, ngõ Trung Yên, nâng tổng số không gian đi bộ lên 15 tuyến phố. Thời gian mở cửa tuyến phố đi bộ trong 3 tối cuối tuần (thứ 6, thứ 7, Chủ nhật), bắt đầu từ 19h - 24h (đối với mùa Hè) và từ 18h - 24h (đối với mùa Đông), ngoài ra phố đi mở mở cả ngày đối với các ngày lễ lớn.
Theo báo cáo của Ủy ban Nhân dân (UBND) thành phố Hà Nội tháng 12/2016, không gian đi bộ trở thành nơi vui chơi cho người dân thành phố, thu hút đông khách du lịch trong và ngoài nước tham gia các hoạt động như trò chơi dân gian, biểu diễn văn nghệ truyền thống và đương đại, giải trí, ẩm thực,… Trung bình ban ngày lưu lượng khoảng 3.000 - 5.000 người, buổi tối khoảng 15.000 - 20.000 người.
   Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, để sản phẩm du lịch tuyến phố đi bộ Hà Nội hấp dẫn hơn đối với khách du lịch trong nước và quốc tế, kể cả với người dân Hà Nội thì cần đổi mới các loại hình trình diễn, vui chơi, giải trí. Ông Nguyễn Tiến Đạt, phó Giám đốc công ty Transviet cho rằng có thể tái hiện không gian “Hà Nội qua các thời kỳ”, khu trưng bày ảnh, hiện vật, phương tiện giao thông. Ví dụ, tại không gian Hà Nội thời Pháp thuộc sẽ có trưng bày ảnh Hà Nội và các cổ vật thời Pháp thuộc, xe xích lô kéo tay... Trong không gian này, có thể tái tạo cảnh Hà Nội xưa bằng những toa tàu điện để mọi người chụp ảnh và có thể làm cà phê tàu điện. Như vậy, mỗi du khách khi đến Hà Nội sẽ hiểu rất nhanh về các thời kỳ lịch sử của Thủ đô.
   Hoạt động không gian đi bộ ở thủ đô Hà Nội được tổ chức với sự phối hợp chặt chẽ của Sở Du lịch Hà Nội, UBND quận Hoàn Kiếm, Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Ngoại vụ, Công an thành phố Hà Nội, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị TP Hà Nội,… có thể nói là bước đột phá của du lịch thủ đô. Sự phối hợp của các cơ quan chức năng đã đảm bảo công tác an ninh, mỹ quan, trật tự đô thị, tạo môi trường văn hóa tuyến phố đi bộ văn minh. Trong thời gian tới, cần tiếp tục làm đa dạng hơn các hoạt động văn hóa nghệ thuật, giao lưu biểu diễn quốc tế, cần lập kế hoạch tổ chức các sự kiện và thông báo rộng rãi cho nhân dân biết sớm, đặc biệt, cách phục vụ cũng phải chuyên nghiệp hóa cao.
   4. Tour “Áo dài Hà Nội”
   Ngày 11/12/2016, “Không gian áo dài Việt” chính thức khai trương, mở cửa phục vụ du khách trong nước và quốc tế tại Lanhuong Fashion House (số 18 đường Âu Cơ , Hà Nội, ngay sau khi diễn ra Festival Áo dài Hà Nội 2016. Đây là một trong số các địa điểm được lựa chọn là điểm dừng chân trong tour “Áo dài Hà Nội” do Sở Du lịch Hà Nội khởi xướng. Xuất phát từ đặc điểm phố Cầu Gỗ từng là nơi có nhiều cửa hàng áo dài có chung chữ “Trạch” và cả một làng áo dài Trạch Xá (huyện Ứng Hòa) chuyên cung cấp các sản phẩm và vải may áo dài, Sở Du lịch Hà Nội đã khảo sát và chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho một số nhà mốt trên địa bàn thủ đô để đưa sáng kiến xây dựng tour “Áo dài Hà Nội” vào thực tiễn. Liên quan đến quy trình làm ra một chiếc áo dài, từ khâu ý tưởng, thiết kế, sản xuất, xưởng may, xưởng thêu, cho tới các phụ trang, văn hóa mặc,… cần có sự kết hợp của nhiều ngành nghề sản xuất khác, tour “Áo dài Hà Nội” chọn điểm nhấn “Không gian áo dài Việt” với điểm độc đáo là hoạt động hướng tới truyền thống, mang đậm bản sắc văn hóa, sử dụng 100% nguồn nguyên liệu trong nước, kết hợp trưng bày và trình diễn của nghệ nhân đến từ các làng nghề như làng nuôi tằm tơ Mỹ Đức, làng lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, chạm bạc Định Công - Đồng Xâm, gốm Bát Tràng, dệt Triều Khúc, nón lá Làng Chuông… Không những thế, khi đến đây, khách du lịch còn có điều kiện tìm hiểu về nguồn gốc và các kiểu áo dài, về nghề dệt tơ, tằm cùng những nét khái quát về văn hóa mặc, sự phát triển qua các thời kỳ của tà áo dài truyền thống. “Không gian áo dài Việt” được Sở Du lịch Hà Nội công nhận là cơ sở đạt chuẩn phục vụ khách du lịch, là nơi giao lưu, gặp gỡ, hợp tác của các nhà thiết kế thời trang trong nước, ngoài nước, tiếp đón các đoàn khách đến với Hà Nội, tham dự các hoạt động văn hóa như Tuần văn hóa Việt Nam - Ma-lai-xi-a - In-đô-nê-xi-a .
Tour “Áo dài Hà Nội” mới được công ty công ty du lịch Châu Á Thái Bình Dương APT Travel đưa vào khai thác từ tháng 10/2016 được xem cầu nối giữa văn hóa, truyền thống trong trang phục áo dài với du lịch. Cho tới nay nhiều doanh nghiệp du lịch như Du lịch Việt, Transviet đã có ý tưởng đưa áo dài vào không gian phố cổ Hà Nội, phố đi bộ Hà Nội để tăng sức hấp dẫn cho các tour du lịch. Để khai thác sản phẩm này một cách bài bản, có trọng tâm trong một thời gian dài cần được đầu tư, nghiên cứu thêm, có sự tham gia mạnh mẽ của các nghệ nhân áo dài, các doanh nghiệp liên quan trong quy trình khép kín sản xuất áo dài và sự ủng hộ, hưởng ứng của người dân dựa trên hiểu biết về ý nghĩa của sản phẩm du lịch độc đáo này.
   5. Du lịch nha khoa ở thành phố Hồ Chí Minh
Trong thời gian gần đây, du lịch thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) lựa chọn ngành nha khoa thẩm mỹ là một trong số những điểm nhấn để thu hút khách quốc tế vì một đặc điểm dễ nhận thấy là yếu tố giá thành dịch vụ nha khoa của thành phố rẻ hơn từ 2-3 lần so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Malaysia,… Ngoài ra, theo thống kê, số lượng y, bác sĩ nha khoa tại TP.HCM chiếm hơn 50% của cả nước, với hơn 3.000 bác sĩ dày dặn kinh nghiệm, được tập huấn, đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ hàng năm. Nguyên nhân là tại Việt Nam chi phí đào tạo bác sĩ nha khoa không cao, nhân công cũng rẻ hơn.
   Ngoài việc khách đến điều trị nha khoa, thẩm mỹ kết hợp nghỉ dưỡng, thị trường du lịch nha khoa còn có tiềm năng khai thác đối tượng khách tổ chức sự kiện, triển lãm, khách đi công tác, hội họp liên quan đến phát triển du lịch nha khoa. Cụ thể, TP.HCM đã tổ chức Ngày hội Du lịch nha khoa ngày 24/6/2017 và lễ ra mắt câu lạc bộ du lịch nha khoa do Sở Du lịch và Sở Y tế phối hợp tổ chức, triển lãm “Dịch vụ Nha khoa và Du lịch lữ hành – Mùa khuyến mãi”, đón tiếp các diễn giả đến từ Nhật Bản, Malaysia… trình bày và chia sẻ.
   Theo các bác sĩ chuyên ngành nha khoa, đối tượng Việt kiều chiếm tỷ phần lớn trong số khách đến. Ngoài ra, số lượng ngoại kiều tuy ít hơn nhưng mức tăng trưởng cũng rất nhanh. Chỉ tính riêng tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt TP.HCM năm 2014 có khoảng 300 lượt người, nhưng từ đầu năm 2017 đến nay, con số này đã tăng lên gần 1.000 lượt người. Theo thống kê của các cơ sở y tế trên địa bàn TP.HCM, hằng năm có đến 100.000 lượt người nước ngoài đến từ các thị trường phát triển như Úc, Mỹ, New Zealand, Anh… thông qua con đường đi du lịch nghỉ dưỡng để kết hợp việc điều trị răng miệng. Nguồn khách chủ yếu từ các nước phát triển như Australia, Mỹ, New Zealand, Anh, Pháp…
   Du lịch nha khoa là một trong những sản phẩm du lịch y tế thế mạnh trên thế giới hiện nay. Ở TP.HCM cũng vậy, bác sĩ Nguyễn Đức Minh - Giám đốc Bệnh viện Răng Hàm Mặt TP.Hồ Chí Minh - cho rằng, du lịch nha khoa là một trong 5 nhóm sản phẩm chủ lực của du lịch y tế của thành phố. Trong thời gian tới, TP.HCM sẽ xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm Du lịch và Nha khoa trở thành thương hiệu và sản phẩm thế mạnh của du lịch y tế thành phố. Song song với đó là việc tăng cường sự kết hợp giữa các cơ sở điều trị nha khoa với nhau, và giữa các cơ sở điều trị nha khoa với các công ty lữ hành, xây dựng thương hiệu nha khoa của TP.HCM nói riêng và của Việt Nam nói chung.
   II. Nhận định tổng quan và bài học kinh nghiệm
   Trong khuôn khổ bài tham luận này, chúng tôi cho rằng để được xem xét là một sản phẩm du lịch mới có tiềm năng thì cần xem xét một số khía cạnh như sau: Sản phẩm du lịch mới cần phải thu hút được một đối tượng đáng kể khách khám phá, trải nghiệm; Sản phẩm đó có điểm độc đáo, khác biệt và đã bước đầu phát huy hiệu quả; Có tác động đối với kinh tế - xã hội địa phương; Có khả năng phát triển, liên kết với các ngành, các lĩnh vực khác trong tương lai.
   Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/1/2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Quy hoạch Phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 nêu rõ định hướng phát triển sản phẩm du lịch, bao gồm các phương diện sau:
   Phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng theo các vùng được tổ chức theo các không gian phát triển du lịch với tính chất đặc trưng nổi trội để tạo dựng thương hiệu từng vùng có sản phẩm điểm đến tổng hợp.
   Đa dạng hóa sản phẩm phục vụ các đối tượng khách với những nhu cầu đa dạng như: du lịch MICE Hội họp, Khuyến thưởng, Hội nghị, Triển lãm; du lịch đô thị; du lịch giáo dục; du lịch thể thao; du lịch dưỡng bệnh; du lịch du thuyền; du lịch làm đẹp…
   Tăng cường liên kết giữa các địa phương, doanh nghiệp; theo khu vực, các hành lang kinh tế; cùng các ngành vận chuyển, các liên kết vùng, liên vùng và quốc tế để tạo thành sản phẩm du lịch hấp dẫn.
   Như vậy, qua nghiên cứu các điển hình đã nêu trên, xin nêu một số nhận định tổng quan về sản phẩm du lịch mới ở Việt Nam như sau:
   1. Các sản phẩm chú trọng khai thác thế mạnh của địa phương về tài nguyên thiên nhiên, văn hóa truyền thống, phong tục tập quán độc đáo, và nguồn lực con người với kỹ năng và công nghệ cao, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
   2. Các sản phẩm du lịch có chủ đề dựa trên thiên nhiên, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, cộng đồng, và công nghệ y học.
   3. Các dòng sản phẩm đáp ứng thị trường mục tiêu: khách du lịch trải nghiệm, khách du lịch sáng tạo, khách du lịch đại chúng; khách du lịch công vụ, và khách du lịch chữa bệnh, làm đẹp.
   4. Cần có nghiên cứu, tiếp tục vận hành thí điểm và hoàn thiện sản phẩm mới, trong đó lưu ý tới các tác động đối với kinh tế, sinh kế của người dân địa phương.
   5. Cần có sự ủng hộ, tham gia đóng góp ý tưởng và nguồn lực của khu vực doanh nghiệp để từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hơn các hoạt động trong chuỗi dịch vụ, phù hợp với nhu cầu của mỗi thị trường khách du lịch đối với từng sản phẩm.
   6. Tiếp tục xây dựng nguồn quỹ tái đầu tư cho phát triển sản phẩm, trong đó có đào tạo kỹ năng cho cộng đồng làm du lịch địa phương, nâng cao điều kiện cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch.
   III. Kết luận
   Việc nghiên cứu điển hình một số sản phẩm du lịch mới và đưa ra nhận định, bài học kinh nghiệm cho việc phát triển các sản phẩm này trong tương lai có thể giúp ích cho các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách tiếp tục đầu tư và thực hiện vận hành bài bản và bền vững hơn, hoàn thiện sản phẩm sao cho phù hợp với sự phát triển chung về văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ, phù hợp với xu hướng phát triển du lịch chung của Việt Nam, của khu vực và thế giới./.

(Hình ảnh tại Cơ sở lưu trú du lịch cộng đồng Ngọc Chiến: Các nếp nhà sàn bằng gỗ pơ mu ở Ngọc Chiến dùng để phục vụ khách du lịch, khai thác nguồn nước suối khoáng nóng thiên nhiên trong cảnh quan núi rừng như níu chân du khách ở lại lâu hơn)

Chiến Thắng

   1. Thái Lan – Văn hóa Thái là lợi thế cạnh tranh trong phát triển sản phẩm du lịch


Asean mai 2 
Chùa Wat Phra That Doi Suthep - Chiang Mai Thái Lan

   Thái Lan là nước có ngành du lịch phát triển mạnh ở châu Á. Truyền thống văn hóa và sự mến khách của nhân dân Thái Lan là yếu tố quan trọng góp phần tăng cường thu hút khách du lịch đến với đất nước này. Ngành du lịch là ngành thu được nguồn ngoại tệ chủ yếu và cao hơn các ngành sản xuất khác của Thái Lan. Thị trường khách quốc tế chủ yếu của Thái Lan là các nước trong khối ASEAN, châu Á, châu Âu như Pháp, Đức, Bỉ…
   Cơ quan Du lịch Quốc gia Thái Lan, gọi tắt là TAT là cơ quan quản lý nhà nước cao nhất, có trách nhiệm xúc tiến và phát triển du lịch Thái Lan. TAT là cơ quan trực thuộc Chính phủ, hoạt động độc lập. Đứng đầu Cơ quan Du lịch Quốc gia là Thống đốc. Giúp việc cho Thống đốc có Văn phòng Thống đốc, Hội đồng Tư vấn, Viện Đào tạo Khách sạn và Du lịch, Văn phòng Kinh doanh Du lịch Bangkok, Ban Quản lý hoạt động khu du lịch và Thanh tra Tài chính nội bộ… Sự hoạt động của TAT rất đạt hiệu quả, bởi có chiến lược và biết tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu thị trường và xúc tiến quảng bá, sau đó đưa ra định hướng và những giải pháp cụ thể cho các doanh nghiệp thực hiện. TAT luôn phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành có liên quan đến du lịch để chỉ đạo các doanh nghiệp triển khai các hoạt động du lịch; qua đó, liên tục đề xuất, trình Chính phủ phê duyệt từ các chính sách, chiến lược cho đến các chiến dịch, chương trình xúc tiến quảng bá từng thị trường khách cụ thể, trong từng giai đoạn nhất định.
   Trong nhiều năm liên tục, một trong những yếu tố quan trọng đã giúp ngành Du lịch Thái Lan mang lại lợi nhuận cao nhất cho quốc gia này là các chiến dịch quảng bá và xúc tiến đa dạng như: Năm 1982 là Rattanakosin Bicentennial; 1987 và năm 1992 đều có chủ đề là Năm Du lịch Thái Lan; hai năm liền 1998 - 1999 là Chiến dịch Amazing Thailand… Năm 1997, khi Thái Lan rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế thì chính du lịch là ngành kinh tế chủ đạo góp phần đưa nền kinh tế Thái Lan từ chỗ thâm hụt, giảm sút đến mức ổn định và dần tăng trưởng trở lại.
   Tuy nhiên, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Thái Lan về du lịch là tăng cường, tập trung thu hút khách, tăng nguồn thu cho ngân sách, nhưng sự bùng nổ du lịch đó đã mang đến cho Thái Lan những tác động tiêu cực đối với các tài nguyên du lịch như vấn đề suy thoái, ô nhiễm môi trường, thay đổi sắc thái nền văn hóa. Nhận thức được ảnh hưởng tiêu cực đó, Chính phủ Thái Lan đã chuyển mục tiêu phát triển du lịch, tập trung vào việc nâng cao phần đóng góp tăng trưởng kinh tế của đất nước, bảo vệ môi trường trên cơ sở phát triển một cách ổn định và cân bằng, khuyến khích phát triển các nguồn lực, đảm bảo năng lực tham gia vào quá trình phát triển du lịch.
   Thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, TAT đã đưa ra các chính sách cụ thể nhằm xúc tiến, phát triển du lịch trong giai đoạn tiếp theo như sau:
   - Khôi phục và giữ gìn các tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường, văn hóa nghệ thuật thông qua việc ưu tiên phát triển du lịch bền vững.
   - Thúc đẩy hợp tác giữa khu vực nhà nước và tư nhân, phối hợp với cộng đồng địa phương trong quá trình khai thác, phát triển và quản lý tài nguyên du lịch.
   - Hỗ trợ phát triển các đối tượng cung cấp dịch vụ cho du khách thông qua việc áp dụng các tiến bộ về khoa học, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
   - Tăng cường hợp tác với các nước láng giềng, phối hợp xúc tiến, quảng bá phát triển các hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới giao thông và các tiện ích phục vụ du lịch.
   - Khuyến khích phát triển nguồn nhân lực, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ du lịch cả về số lượng và chất lượng.
   - Thực hiện nghiêm túc các quy định trong việc đảm bảo an ninh cho du khách và môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp du lịch.
Ngoài ra, đối với các vấn đề liên quan đến du lịch, Thái Lan cũng có những chính sách cụ thể như: đối với Hàng không; giao thông đường bộ; du lịch đường biển; vấn đề thủ tục visa và cảnh quan, môi trường du lịch…
   Thái Lan xác định chiến lược phát triển sản phẩm du lịch với mục tiêu đưa du lịch Thái Lan có khả năng cạnh tranh quốc tế, đảm bảo cuộc sống cho người Thái và đảm bảo cân bằng kinh tế, xã hội. Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch 2012-2016 xác định phát triển mô hình chiến lược đã thực hiện tạo dựng các cơ hội mới vì sự phát triển bền vững trong tương lai. 4 chiến lược thành phần: xây dựng khả năng cạnh tranh cho du lịch của đất nước; tạo dựng cơ hội phát triển mạnh mẽ; phát triển gắn với tài nguyên thiên nhiên; tăng cường công tác quản lý của chính phủ.
7 chủ đề sản phẩm du lịch được xác định trong chiến lược và xác định chi tiết theo các hạng mục:
   Năm 2015, ngành du lịch Thái Lan lựa chọn những sản phẩm du lịch trong đó khách du lịch được trải nghiệm về “Thainess” (đặc trưng Thái). Các sản phẩm được lựa chọn phát triển trong kế hoạch này đưa ra những định hướng phát triển cụ thể về “Điểm đến PHẢI THĂM”, “Hoạt động PHẢI LÀM”, “Sản phẩm PHẢI MUA” và “Món ăn PHẢI NẾM”.
 Ẩm thực Thái Lan – du lịch ẩm thực
 Nghệ thuật Thái Lan – du lịch văn hóa nghệ thuật
 Cuộc sống của người Thái Lan – du lịch trải nghiệm cuộc sống bản địa
 Sức khỏe Thái Lan – du lịch chăm sóc sức khỏe
 Lễ hội truyền thống Thái Lan – du lịch lễ hội
 Sự thông thái của Thái Lan – du lịch tìm hiểu văn hóa truyền thống các dân tộc
 Niềm vui Thái Lan – du lịch vui chơi giải trí

   2. Singapore – Du lịch MICE khẳng định thế mạnh
   Singapore là một quốc đảo nhỏ, tài nguyên hạn chế, nhưng đã biết phát huy triệt để tiềm năng, thế mạnh về vị trí địa lý và nguồn lực con người để có những bước phát triển vượt bậc. Diện tích quốc đảo chỉ có 710 km2 nhưng có đến 5,2 triệu người đang sinh sống, làm việc ở đây, trong đó có gần 2 triệu người nước ngoài. Trong các thành công của Singapore thời gian qua phải kể đến sự thành công của chính sách phát triển du lịch phù hợp cho từng giai đoạn của Chính phủ Singgapore.
   Từ năm 1965 đến nay, Singapore đã hoạch định chiến lược, xây dựng 6 kế hoạch phát triển du lịch khác nhau, đó là: “Kế hoạch Du lịch Singapore” (năm 1968), “Kế hoạch Phát triển du lịch” (năm 1986), “Kế hoạch Phát triển chiến lược” (năm 1993), “Du lịch 21” (năm 1996), “Du lịch 2015” (năm 2005), “Địa giới du lịch 2020” (năm 2012).

Asean mai 3
Nguồn: Singapore Tourism Board

   Với “Kế hoạch phát triển du lịch” (năm 1986), Singapore chủ trương bảo tồn và khôi phục các khu lịch sử văn hóa như: Khu phố của người Hoa, Tanjong Tagar, Little India, Kampong Glam, sông Singapore. Với “Kế hoạch Phát triển chiến lược” (năm 1993), Singgapore tập trung phát triển các sản phẩm du lịch mới như: du thuyền, du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục, du lịch trăng mật; phát triển các thị trường du lịch mới; tổ chức các lễ hội lớn mang tầm cỡ quốc tế; tập trung phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch; trao các giải thưởng về du lịch; giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về du lịch…
   Năm 1996, Singapore triển khai “Du lịch 21”, chuẩn bị và thực hiện tầm nhìn dài hạn cho sự phát triển của du lịch trong Thế kỷ 21, với các chiến lược thị trường du lịch mới nổi, chiến lược du lịch khu vực, chiến lược phát triển sản phẩm du lịch mới, chiến lược nguồn vốn du lịch, chiến lược “Nhà vô địch du lịch Singapore”.
   Trong “Du lịch 2015”, Singapore tập trung phát triển các thị trường chính với phương châm tạo sự hiểu biết tốt hơn về Singapore, phát triển Singapore thành một điểm du lịch “phải đến”, cải thiện tiêu chuẩn dịch vụ nhằm cung cấp các dịch vụ đáng nhớ cho khách du lịch, nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch, phát triển các doanh nghiệp du lịch và nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệp, phát triển các sản phẩm trọng tâm của du lịch… Năm 2012, Singgapore chi 300 triệu đô Sing để tổ chức các sự kiện du lịch, chi 340 triệu đô Sing phát triển các sản phẩm du lịch, chi 265 triệu đô Sing phát triển nguồn nhân lực du lịch. Đến năm 2015, Singapore đầu tư cho Quỹ phát triển du lịch là 2 tỷ đô Sing, dự kiến đón khoảng 17 triệu khách du lịch quốc tế và doanh thu từ du lịch khoảng 30 tỷ đô Sing.
   Singapore xây dựng chiến lược phát triển du lịch MICE, xác định đưa quốc gia này trở thành cường quốc dẫn đầu trong khu vực Châu Á về du lịch hội nghị hội thảo. Đồng thời, Singapore sẽ phát triển trở thành trung tâm dịch vụ và nghỉ dưỡng của khu vực. Chiến lược này xác định ra các dự án du lịch lớn cần phải thực hiện như Giải đua công thức 1 (Formula OneTM Singapore Grand Prix), Khu phức hợp nghỉ dưỡng (Integrated Resorts) và Vòng đu quay khổng lồ (Singapore Flyer)…
   Xác định phát triển du lịch MICE là trọng tâm: với lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, là trung tâm của các hoạt động giao thương lớn trong khu vực, Singapore xác định phát triển du lịch MICE là trọng tâm của chiến lược phát triển sản phẩm du lịch.
   Từ năm 1971, quốc gia này đã xúc tiến hình ảnh “Trung tâm hội nghị của phía Đông”, cùng với việc thành lập Cục phát triển Hội nghị Singapore năm 1974 (Singapore Convention Bureau - SCB) với nhiệm vụ xây dựng nhận thức cho cả thế giới về châu Á – một điểm đến tổ chức hội nghị hội thảo và nghĩ đến Singapore – điểm đến MICE tốt nhất ở Châu Á.
   Xác định được mục tiêu, Singapore bắt tay với các khách sạn lớn hàng đầu thế giới phát triển các trung tâm hội nghị, các nhà đầu tư tư nhân để phát triển các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại. Đến cuối những năm 1990, Singapore đã có đủ các cơ sở hạ tầng, VCKT cần thiết để tổ chức các sự kiện MICE tầm cỡ thế giới như Suntec Singapore International Convention, Exhibition Centre và the Singapore Expo.
   Đến năm 1996, SCB đổi tên thành Cục phát triển Hội nghị và Triển lãm Singapore (SECB) để mở rộng sang lĩnh vực tổ chức triển lãm. Cùng với đó là sự hợp tác với các bên đối tác là doanh nghiệp trong lĩnh vực tổ chức sự kiện, lữ hành để nâng cao chất lượng trải nghiệm du lịch MICE cho khách hàng là người đi du lịch công vụ.
   Hiện nay, Singapore đã trở thành điểm đến dẫn đầu thế giới về du lịch MICE, lĩnh vực này đóng góp hơn 30% vào tổng thu từ du lịch của quốc gia. Dù vậy, quốc gia này vẫn nỗ lực để thay đổi, phát triển không ngừng, để duy trì vị trí dẫn đầu.

   3. Malaysia – du lịch nghỉ dưỡng

Asean mai 4
Nguồn: Malaysia Tourism

   Malaysia là đất nước có ngành Du lịch phát triển nhất trong khu vực. Mục tiêu phát triển du lịch của Malaysia đến năm 2020 trở thành nước phát triển về du lịch hàng đầu trong khu vực và quốc tế. Thông điệp chính của ngành du lịch thể hiện mục tiêu và quan điểm phát triển: “Định vị Malaysia là điểm đến du lịch hàng đầu trong nhận thức thị trường và xây dựng ngành du lịch thành ngành có đóng góp chính trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”. 10 thị trường khách du lịch hàng đầu của Malaysia theo thứ tự quan trọng bao gồm Singapore, Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc, Brunay, Ấn Độ, Australia, Philipines, Anh và Nhật Bản.
   Trong chiến lược chung của Malaysia về chuyển dịch kinh tế, ngành Du lịch xây dựng kế hoạch chuyển dịch phát triển du lịch đến năm 2020 tập trung vào việc phát triển sản phẩm và thị trường với mục tiêu chính là tập trung vào thị trường có khả năng chi trả cao, đẩy mạnh chương trình tiêu dùng của khách du lịch.
   Hai hướng chính trong quan điểm phát triển là: bảo vệ, bảo tồn và giữ gìn môi trường: phát triển du lịch xanh, giải thưởng khách sạn xanh, chiến dịch quốc gia về một Malaysia xanh, một Malaysia sạch và phát triển toàn diện, chú trọng tính cân bằng và tính bền vững (tầm quan trọng của lợi ích cộng đồng).
   Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay. Malaysia xác định phải có những sáng kiến và cải tiến trong phát triển sản phẩm. Các sáng kiến tập trung vào tổ chức các sự kiện tầm quan trọng quốc gia gồm: “Malaysia ngôi nhà thứ 2 của tôi” để khuyến khích người nước ngoài mua nhà tại Malaysia để đi lại nghỉ ngơi, du lịch và kéo theo người thân và bạn bè tới du lịch tại đây. Ngoài ra, Malaysia cũng tập trung vào duy trì và khuếch trương sản phẩm du lịch mua sắm. Tập trung các sản phẩm cho thị trường du lịch cao cấp và xác định địa điểm cụ thể và từng hoạt động: nghỉ dưỡng tại các khu du lịch, vui chơi giải trí, các loại hình thể thao, các địa điểm mua sắm. Đặc biệt tập trung vào đẩy mạnh du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục và cuối cùng là du lịch MICE.
   Malaysia đã khai thác ba nét nổi bật nhằm tạo nên sự độc đáo và hấp dẫn để phát triển du lịch, thu hút du khách. Đầu tiên, Malaysia là một quốc gia đa dân tộc, sự pha trộn nhiều nền văn hóa khác nhau tạo nên một bản sắc văn hóa rất riêng. Với hơn 60% dân số theo đạo Hồi, những nét văn hóa đạo Hồi của Malaysia mang đến trải nghiệm thú vị cho du khách. Bên cạnh đó, Malaysia còn có văn hóa ẩm thực đặc sắc, bởi đây là nơi giao thoa của nhiều nền ẩm thực hàng đầu. Malaysia cũng là đất nước có nhiều điểm đến hấp dẫn, du khách có thể thể thỏa sức khám phá vẻ đẹp đích thực của châu Á từ các thành phố sang trọng, rừng cây nhiệt đới cho đến những vùng núi cao, cao nguyên hoang sơ, bãi biển đẹp. Đặc biệt, nét nổi bật của du lịch Malaysia là các sản phẩm du lịch đa dạng, đẳng cấp quốc tế với mức giá cạnh tranh. Nổi bật là du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, thể thao mạo hiểm, các địa điểm mua sắm… Malaysia hiện đang đẩy mạnh phát triển các sản phẩm mới như du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục và du lịch công vụ (M.I.C.E). Để thu hút đông đảo du khách hơn nữa, Malaysia luôn chú trọng sáng tạo các sản phẩm du lịch mới, thoản mãn mọi nhu cầu của du khách khắp nơi trên thế giới…
   Về quy hoạch du lịch, Malaysia không có một quy hoạch tổng thể phát triển du lịch như cách tiếp cận của Việt Nam mà chỉ có “Kế hoạch chuyển đổi du lịch Malaysia đến năm 2020” nhằm thu hút các thị trường trường du lịch có khả năng chi trả cao và tăng chi tiêu du lịch. Các khu vực, địa bàn phát triển du lịch chính với các chức năng cụ thể đã được xác định trong Chiến lược Phát triển du lịch từ những năm 1970 vẫn được duy trì. Căn cứ vào định hướng có tính quốc gia này, các địa phương, thậm chí doanh nghiệp du lịch sẽ có những kế hoạch phát triển du lịch cụ thể.

   4. Indonesia – du lịch sinh thái và cộng đồng
   Indonesia đã xây dựng xong chiến lược tổng thể phát triển du lịch đến năm 2025, theo đó tư tưởng chính sẽ tập trung nâng cao chất lượng du lịch. Mục đích của chiến lược phát triển du lịch đến năm 2025 của Indonesia sẽ phát triển khoảng 50 điểm đến quy mô quốc gia với một số “hành lang du lịch”, lượng khách quốc tế dự kiến đến thời điểm này dự kiến đạt 25 triệu lượt người. Cùng với chiến lược là một kế hoạch phát triển đến năm 2015 cũng đã hoàn tất với nội dung tập trung phát triển 3 loại hình du lịch chính là du lịch sinh thái, du lịch nông thôn và du lịch biển. Đối với du lịch nông thôn sẽ triển khai trên 54 điểm, du lịch sinh thái là 50 điểm ở các vườn quốc gia.

Asean mai 1
Nguồn: Indonesia Tourism

   Indonesia có chủ trương phát triển du lịch dựa vào cộng đồng. Chính phủ hỗ trợ phát triển bằng việc cho thuê đất với giá rẻ để cộng động làm du lịch, đồng thời hướng dẫn và đào tạo cộng đồng về nghiệp vụ du lịch. Các sản phẩm chính được định hướng: du lịch di sản, du lịch sinh thái, du lịch đánh golf, du lịch lặn biển, du lịch MICE. Ở Indonesia, Vụ Thị trường của Cục Xúc tiến Indonesia có nhiệm vụ theo dõi diễn biến thị trường, định hướng và tổ chức các hoạt động xúc tiến quảng bà du lịch ở cấp quốc gia. Từ việc theo dõi thị trường và đánh giá tình hình, xu hướng phát triển kinh tế - xã hội và du lịch, Indonesia chuyển hướng thu hút thị trường khách du lịch ASEAN. Ngân sách xúc tiến quảng bá du lịch năm 2010 của Indonesia vào khoảng 40 triệu USD.
   Đối với việc phát triển sản phẩm du lịch, đặc biệt tại địa bàn đảo Bali – một trong những điểm du lịch nổi bật của Indonesia thì những thành công chính nằm ở vấn đề như tôn trọng ý kiến, tập tục và tư duy của người bản địa; nâng cao nhận thức về phát triển du lịch theo một quá trình; ban hành các quy định chặt chẽ và rõ ràng về kiến thức, có quan điểm bảo tồn và giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống.

 

ThS. Nguyễn Hoàng Mai – Phòng QLKH&HTQT

   XuhuongKinh nghiệm của Thái Lan

   Nhận thức được tầm quan trọng của phát triển du lịch đối với nền kinh tế quốc dân nên Thái Lan là một trong những nước tiên phong trong du lịch bắt tay vào làm du lịch và trở thành “cường quốc du lịch” trong khu vực.

   Xu hướng du lịch sinh thái

  Những năm gần đây, xu hướng đi du lịch sinh thái ngày càng phát triển vì con người ngày càng muốn gần gũi với thiên nhiên. Tổng cục Du lịch Thái Lan (TAT) và các doanh nghiệp tư nhân đã nhanh chóng nắm bắt được xu hướng này của khách du lịch và nhanh chóng phát triển rất nhanh loại hình du lịch này. Nhận thức được thực tế là Thái Lan được tạo hóa ban tặng nhiều kỳ quan thiên nhiên tuyệt đẹp với những cảnh quan hoang dã phù hợp với loại hình du lịch sinh thái, chính phủ Thái Lan đã đầu tư nhiều tiền vào phát triển du lịch sinh thái và kết quả là Thái Lan đã trở thành điểm đến quen thuộc đối với những du khách yêu thích khám phá, tìm hiểu tự nhiên. Trong suốt hai thập kỷ qua, những hoạt động như xe đạp leo núi, thả bè trên sông, cắm trại, ngắm chim choc, tự nhiên, lặn biển, leo núi đá…rất phát triển trong những khu du lịch tự nhiên của Thái Lan, đặc biệt là khu vực phía Bắc, Đông và Nam Thái Lan. Với hành trình Bangkok - Pattaya - Kanchanaburi sẽ đưa du khách đến không gian xanh của những cánh rừng nguyên sinh bát ngát, những ngọn núi đồi hùng vĩ. Ở Kanchanaburi, nơi địa hình thung lũng rộng lớn bao quanh bởi núi đồi và những cánh rừng nguyên sinh cùng ba con sông nổi tiếng Khwae Noi, Khwae Yai và Mae Klong hợp lưu với nhau, các doanh nghiệp du lịch Thái đã đầu tư vào các hoạt động vui chơi giải trí gắn liền với sông nước thú vị như: vượt thác, tắm thác giữa đại ngàn núi rừng bao la với phương pháp massage bằng nước cực kỳ hiệu nghiệm. Bên cạnh đó, Kanchanaburi còn thu hút du khách với trải nghiệm hoàn toàn độc đáo, mới lạ trên lưng những chú voi khổng lồ để du ngoạn cảnh sắc hai bên cánh rừng mênh mông.

   5.vanhoadantoc 1 Trong những năm qua, Du lịch đã dần khẳng định vị trí trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Để làm được điều này, việc kết hợp giữa văn hóa và du lịch đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra tính hấp dẫn riêng có của du lịch. Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch đã nhận được nhiều sự quan tâm đánh giá của các chuyên gia và nhìn chung đều thống nhất ở điểm chú trọng yếu tố văn hóa truyền thống dân tộc là cần thiết, vừa bảo tồn và khai thác hiệu quả các giá trị nhằm hướng tới việc phát triển du lịch bền vững.
   Trong quá trình dựng nước và giữa nước lâu dài, nhân dân Việt Nam đã tự tạo ra một nền văn hóa riêng biệt và dần nâng lên trình độ văn minh. Nền văn hóa và văn minh đó đã khẳng định sự tồn tại độc lập của người Việt Nam trên lãnh thổ quốc gia của mình, sát cánh cùng các dân tộc ít người. Nền văn hóa đó rất đa dạng và nhiều màu sắc, phản ánh cuộc sống lao động sáng tạo và tự chủ của cư dân sống trên đất nước Việt Nam.

“Du lịch trở thành một trong ba ngành công nghiệp tạo ra việc làm lớn nhất trên thế giới. Du lịch thúc đẩy sự đầu tư lớn về cơ sở hạ tầng và phần lớn trong số đó hỗ trợ một cách tích cực cho việc cải thiện điều kiện sống của người dân địa phương. Du lịch cũng mang lại nguồn thu đáng kể từ thuế thu nhập. Những nghề nghiệp mới nhất trong du lịch cũng được tạo ra ở các nước đang phát triển giúp cho họ cân bằng cơ hội kinh tế và tránh khỏi việc di cư tự do từ các vùng quê lên các thành phố lớn” (UNWTO, 2007).
Tổng quan về du lịch cộng đồng 

minh hoaCác quan điểm tích cực về vai trò của du lịch đã hỗ trợ và khuyến khích các chính phủ và các tổ chức phát triển ở nhiều quốc gia sử dụng du lịch như một cứu cánh cho việc cân bằng quá trình phát triển đất nước. Để đảm bảo việc phát triển du lịch đúng với tầm vóc của mình, ngoài những nguồn lực cơ bản đầu tư do chính cộng đồng, chính phủ và các tổ chức phát triển tạo ra, bên cạnh đó người dân địa phương cũng cần có cam kết tham gia, đầu tư về thời gian, tiền bạc, nỗ lực và hy vọng vào du lịch. Vấn đề của mối quan hệ này là xây dựng được lòng tin, khả năng đem lại nguồn lợi lớn về xã hội, kinh tế cho cộng đồng của họ từ việc tham gia làm du lịch. Để giải quyết được các vấn đề về tác động tiêu cực của du lịch, một số loại hình du lịch mới đã được giới thiệu. Đặc biệt là du lịch cộng đồng.

neZEH WEB SITE SLIDE SHOW 620x211

   UNWTO và các đối tác đã giới thiệu bộ công cụ điện tử hướng dẫn các khách sạn đạt tới mức tiêu thụ năng lượng gần như bằng 0 (Nghĩa là các khách sạn tối đa hóa sử dụng nguồn năng lượng tái tạo, hạn chế lượng năng sử dụng gần như bằng 0).
Bộ công cụ điện tử neZEH (nearly-Zero Enery Hotels – tạm dịch: Những khách sạn sử dụng năng lượng gần như bằng 0) đã chính thức được công bố tại website www.nezeh.eu. Bộ công cụ hỗ trợ đánh giá hiệu suất sử dụng năng lượng của khách sạn và đề xuất các biện pháp cải tiến hiệu quả và tối đa hóa sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo, hướng tới hạn chế gần như bằng 0 việc tiêu thụ năng lượng.

   Đảo NamiĐảo Nami nằm ở thành phố Chuncheon, cách thủ đô Seoul, Hàn Quốc khoảng 70km. Đây là hòn đảo xinh đẹp, nổi tiếng gắn liền với sự thành công của bộ phim “Bản tình ca mùa đông”. Năm 2013, đảo Nami thu hút gần 3 triệu khách du lịch, trong đó xấp xỉ 1 triệu khách quốc tế. Đây là con số đáng kinh ngạc bởi trên thực tế, du lịch của hòn đảo nhỏ bé này đã từng có giai đoạn suy thoái, tưởng chừng không thể vực dậy được.

   Theo lý luận mang tính tiến bộ của Butler(1980), có thể nhìn nhận rằng đảo Nami là điểm du lịch có “sinh mệnh” đã trải qua chu kỳ vòng đời của mình theo mô hình chữ S gồm các giai đoạn là thăm dò, khai phá, phát triển, tăng trưởng, đình trệ và suy thoái, giai đoạn cải tạo. Việc khai thác đảo Nami được chính thức bắt đầu từ năm 1966 khi công ty phát triển du lịch KyoungChun được thành lập, lượng khách du lịch thăm quan đảo tăng đều cho đến năm 1989, tuy nhiên, đến năm 1990 bắt đầu đi vào suy thoái. Từ năm 2002, công ty tuyên bố cải tạo lại đảo và những nỗ lực trong quá trình tái tạo lại môi trường du lịch nơi đây đem lại kết quả là Đảo Nami đã quay trở lại vị trí vốn có của nó, địa điểm du lịch tiêu biểu của Hàn Quốc. Vậy hòn đảo này đã cải tạo, phát triển du lịch như thế nào?

Thứ hai, 17 Tháng mười một 2014 15:14

Kinh nghiệm quốc tế trong quản lý chất lượng du lịch

Tác giả :

logoVien chuan   Thực hiện sự chỉ đạo của Lãnh đạo Tổng cục, thuộc chương trình hành động quốc gia về Du lịch, Viện NCPTDL xây dựng bộ công cụ quản lý chất lượng 06 lĩnh vực du lịch: Lữ hành, khách sạn, cơ sở ăn uống, cơ sowkr mua sắm, khu điểm du lịch, điểm dừng chân du lịch. Sau quá trình nghuên cứu, tìm hiểu, Viện NCPTDL đúc rút được một số kinh nghiệm Quốc tế trong quản lý chất lượng của một số quốc gia trên thế giới như: Anh, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Hàn Quốc, Nhật Bản.

   Trong lĩnh vực du lịch, khách sạn, quản lý chất lượng toàn diện (TQM) là một quá trình mà huy động toàn bộ nhân viên làm việc theo nhóm để đáp ứng mong đợi về dịch vụ của khách hàng và quyết định cách tốt nhất để đáp ứng hoặc vượt quá những mong đợi đó.

   Đảm bảo chất lượng phụ thuộc vào hai yếu tốt quan trọng trọng kinh doanh: đặc trưng của hàng hóa, dịch vụ đó và sự kiểm soát chất lượng trong quá trình cung cấp dịch vụ mà thường được hỗ trợ bởi hoạt động kiểm tra, đánh giá (theo Evans and Lindsay, 2010).

   Bản Sín Chải cách thị trấn Sa Pa khoảng 4 km, nằm trên sườn núi thuộc dãy Hoàng Liên, phần lớn địa phận của Bản nằm trong hoặc sát kề với Vườn quốc gia Hoàng Liên với những dãy rừng nguyên thủy bạt ngàn với hệ sinh thái đa dạng và quý hiếm. Nơi đây chủ yếu là người dân tộc H' Mông có khoảng 120 hộ gia đình di cư từ Trung quốc sang từ thế kỷ thứ 17. Cuộc sống dựa vào sự du canh, du cư, canh tác nương rẫy và khai thác các sản phẩm từ rừng. Dân tộc H’Mông sống tại Bản Sin chải có một truyền thống văn hóa dân tộc, tập quán, tín ngưỡng tồn tại hàng ngàn đời nay, có một kho tàng về các điệu múa, các bài hát tiếng dân tộc, có hàng thủ công mỹ nghệ, vải, quần áo mang đặc trưng riêng của dân tộc H'Mông...

Hmong

   Do điều kiện địa lý, thủy văn và phong tục tập quán nên người dân ở đây chỉ canh tác một vụ lúa, nên thóc gạo không đủ trang trải quanh năm nhiều nhà đã phải chịu thiếu gạo khoảng 2-3 tháng/ năm, điều kiện sinh hoạt hết sức khó khăn. Người phụ nữ H’Mông cần cù chịu khó, chăm chỉ làm việc làm việc quanh năm, không khi nào được nghỉ tay, họ phải dậy sớm làm quần quật hết các nghề khác nhau như: chăn nuôi, thêu diệt hàng thổ cẩm trong đó hàng thổ cẩm được đánh giá rất cao về tính thẩm mỹ nhưng cuộc sống không thể thoát khỏi cái nghèo, cái đói. Cộng đồng người H'Mong luôn luôn du canh, du cư, họ luôn thay đổi địa điểm sinh sống và canh tác nên đã ảnh hưởng rất lớn đối với tài nguyên thiên nhiên.

  Cẩm nang DLNT Trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam-Nhật Bản, trong năm 2013 Tổng cục Du lịch đã giao Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch phối hợp cùng Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) biên tập và xuất bản cuốn “Cẩm nang thực tiễn phát triển du lịch nông thôn Việt Nam” trên cơ sở đúc rút kết quả thực hiện các dự án hỗ trợ phát triển du lịch của Nhật Bản tại các vùng quê Việt Nam: Đường Lâm (Hà Nội), Phước Tích và Thanh Toàn (Thừa Thiên Huế), Hồng Phong (Hải Dương), Đông Hòa Hiệp (Tiền Giang), Tabhing (Quảng Nam) và 3 làng nghề Phù Lãng, Đình Tổ và Hòa Long (Bắc Ninh).

   Cẩm nang do TS. Hà Văn Siêu, Viện trưởng Viện nghiên cứu Phát triển Du lịch và ông Ando Katsuhiro, chuyên gia JICA đồng chủ biên với sự tham gia của các chuyên gia từ Tổng cục Du lịch, Hiệp hội Du lịch Việt Nam, các Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học KHXHNV, Đại học Quốc gia, Viện Nghiên cứu Phát triển ngành nghề Nông thôn Việt Nam, Tổ chức Cứu trợ và Phát triển Quốc tế Nhật bản (FIDR), Đại học Nữ Chiêu Hoàng Nhật Bản, Đại học Chiba, Đại học Tokai, Đại học Karashiki Sakuyo. 

   Cẩm nang là công cụ hỗ trợ hữu hiệu giúp các bên liên quan triển khai phát triển du lịch nông thôn một cách thiết thực, hiệu quả và bền vững. Vì vậy các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ sử dụng, tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo các bài học kinh nghiệm thực tiễn tại Cẩm nang, phát huy những giá trị tài nguyên du lịch các vùng quê để phát triển trở thành những điểm du lịch hấp dẫn; có kế hoạch phổ biến Cẩm nang đến các đối tượng liên quan: cơ quan quản lý (chính quyền địa phương, cán bộ quản lý cấp sở, phòng, trung tâm, ban quản lý...); tổ chức xã hội (hội nghề nghiệp, giáo hội, hội phụ nữ, thanh niên, cựu chiến binh...); doanh nghiệp và cộng đồng dân cư.

   Trong thời gian tới, ngành Du lịch tiếp tục tăng cường các hoạt động hỗ trợ phát triển du lịch nông thôn gắn với Chương trình hành động quốc gia về du lịch và các chương trình, kế hoạch phát triển khác của Ngành. Trong đó, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và tư vấn kỹ thuật để triển khai cụ thể tại các địa phương. Hy vọng rằng với sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo gắn với đặc thù từng địa phương, bài học từ Cẩm nang này sẽ đem lại những kết quả thiết thực đối với phát triển du lịch tại các vùng nông thôn Việt Nam.    

   Ngày 13/5/2014, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Nguyễn Văn Tuấn đã ký ban hành công văn số 449/TCDL-VNCPTDL gửi các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc phổ biến áp dụng Cẩm nang thực tiễn phát triển du lịch nông thôn Việt Nam. 

    Toàn văn công văn: CV449.pdf

 Toàn văn Cẩm nang quý độc giả có thể xem tại đây

Trang 1 / 2