SCREEN

Cpanel

11Tháng mười hai2018

   Community-based Tourism Travel (CBT Travel) là một hình thức doanh nghiệp xã hội huy động được sự phối hợp liên ngành từ nhiều phía như chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng.

   1. Du lịch cộng đồng và công cuộc xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam

   Việt Nam hiện tại đang đối mặt với nhiều thách thức trong công tác xóa đói giảm nghèo. Năm 2012, báo cáo của Ngân hàng Thế giới cho thấy tỉ lệ người nghèo ở Việt Nam đã giảm từ khoảng 58% từ năm 1990 xuống còn 20,7% vào năm 2012. Tuy nhiên, vẫn còn hơn 18 triệu người có thu nhập dưới trung bình, phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp. Khi những người thuộc nhóm “dễ bị tổn thương” này rất dễ tái nghèo thì sẽ rất khó để xóa bỏ hoàn toàn tình trạng nghèo đói trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.

   “Du lịch cộng đồng” bắt đầu được quan tâm, công nhận từ thập niên 1970 thông qua nhiều đóng góp trong xóa đói giảm nghèo bằng du lịch, xem trọng sự tham gia, làm chủ, quản lý và kiểm soát bởi người dân địa phương nhằm mang lại những tác động tích cực tới cộng đồng. Tại Việt Nam, du lịch cộng đồng đang được nhân rộng theo thời gian với mục đích cải thiện thu nhập, mức sống của cộng đồng các địa phương. 

   Tuy nhiên, thực tế còn tồn tại và phát sinh trong hoạt động du lịch cộng đồng gây ra hạn chế về hiệu quả, nỗ lực cải thiện đời sống của người dân địa phương. Không thể phủ nhận rằng đa phần các dự án du lịch cộng đồng nhận tài trợ của các tổ chức phi Chính phủ (NGO) có hiệu quả thấp, thiếu kết nối với hoạt động lữ hành và thiếu khả năng đảm bảo tiêu chuẩn dịch vụ du lịch. Điều này dẫn đến lượng du khách chưa cao và giảm hiệu quả tích cực tại phần lớn các dự án về du lịch cộng đồng. Những địa điểm du lịch cộng đồng thiếu khả năng tài chính thường sụp đổ sau khi kết thúc dự án cũng như chấm dứt tài trợ. Những vấn đề này phần lớn xuất phát từ khả năng quản trị và tiếp cận thị trường kém, tập trung quá nhiều vào phát triển loại hình homestay, phần lớn doanh thu “chảy” vào túi các gia đình có điều kiện, phần lớn cư dân tại cộng đồng không được tham gia và tiếp nhận những lợi ích từ du lịch.

Thứ hai, 04 Tháng sáu 2018 10:01

Trung Quốc cam kết kiểm soát chất thải nhựa

Tác giả :

     Theo thông cáo của Uỷ ban Cải cách và Phát triển Quốc gia Trung Quốc (NDRC) vào ngày mùng 5 tháng 1 năm nay, đất nước đông dân nhất thế giới với nỗ lực tìm kiếm giải pháp giảm thải ô nhiễm chất thải nhựa đã cam kết đưa ra các quy định chi tiết và toàn diện về các sản phẩm nhựa cũng như thúc đẩy các sáng kiến thay thế bằng các vật liệu gây ít ô nhiễm hơn.

   Động thái này được coi như một sự làm mới quy định năm 2008, khi Trung Quốc đưa ra lệnh cấm sử dụng túi ni-lông siêu mỏng với độ dày dưới 0,025mm và buộc các cửa hàng phải thu phí của khách hàng đối với tất cả các loại túi nhựa hoặc ni-lông khác.

tq-chathainhua 

Các dịch vụ chuyển phát nhanh đang góp phần làm gia tang chất thải nhựa (Ảnh: pedphoto36pm/ Thinkstock)

Thứ hai, 25 Tháng mười hai 2017 14:21

Một số kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững trên thế giới

Tác giả :

  UNWTO Du lịch bền vững là phương thức du lịch cân nhắc đầy đủ những tác động hiện tại và tương lai về kinh tế, xã hội và môi trường, trong khi đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch, ngành công nghiệp du lịch, môi trường và cộng đồng địa phương. (UNWTO, 2005)

   Du lịch bền vững có thể được hiểu là “Du lịch quan tâm đầy đủ tới tác động hiện tại và tương lai đối với kinh tế, xã hội và môi trường, lưu ý tới nhu cầu của khách du lịch, ngành Du lịch, môi trường và các cộng đồng địa phương”.
  Thực hiện phát triển du lịch bền vững có nghĩa là đạt được cân bằng trong số 4 trụ cột dưới đây.
   - Trụ cột Kinh tế được xác định là tạo ra phồn vinh ở các cấp độ khác nhau của xã hội và lưu ý đến hiệu quả chi phí cho tất cả các hoạt động kinh tế.
   - Trụ cột Văn hóa - Xã hội dựa trên sự tôn trọng nhân quyền và cơ hội bình đẳng cho tất cả các thành viên trong xã hội cần được phân chia bình đẳng về lợi ích.
   - Trụ cột Môi trường liên quan tới bảo tồn và quản lý tài nguyên, bao gồm tài nguyên thiên nhiên và văn hóa, quản lý đa dạng sinh học và rác thải.
   - Trụ cột Bao trùm hỗ trợ các trụ cột Kinh tế, Văn hóa - Xã hội và Môi trường thông qua chính phủ, cơ sở hạ tầng…
   Dưới đây phân tích một số kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững tại một số quốc gia trên thế giới để có thể thấy cách thức phát triển là khác nhau trong từng trường hợp nhưng đều tuân thủ những nguyên tắc phát triển chung.

  dlhanoi2017 Hà Nội, trái tim của cả nước, nơi tập trung các cơ quan đầu não về kinh tế, chính trị, văn hóa, nơi diễn ra các hoạt động chính trị chủ yếu của đất nước. Thủ đô hơn 1000 năm tuổi với lịch sử lâu đời và truyền thống văn hóa đa dạng và giàu bản sắc, luôn là sự lựa chọn hàng đầu của du khách trong và ngoài nước. Hà Nội, trung tâm văn hóa – chính trị - kinh tế - xã hội, là thủ đô của cả nước. Đây cũng là một trong những địa  bàn tập trung nhiều giá trị tài nguyen du lịch tự nhiên và nhân văn của vùng Bắc Bộ, trong đó, các giá trị đặc trưng về di sản văn hóa, lịch sử, nghệ thuật, truyền thống, lễ hội, ẩm thực... đặc biệt hấp dẫn du khách.

   Trong những năm qua, với vị thế là thủ đô - “thành phố vì Hòa Bình” thì lượng khách du lịch đến với Hà Nội không ngừng tăng: năm 2011 lượng khách đến Hà Nội là 13.547.000 lượt khách đến năm 2016 là 21.830.906 lượt khách. Tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2011-2016 đạt 10%/năm (trong đó khách quốc tế tăng 14%/năm, khách nội địa tăng 9,2%/năm). So sánh tốc độ tăng trưởng cũng trong giai đoạn này với một địa phương có du lịch phát triển như Đà Nẵng là 18,28%, Khánh Hòa là 15,7%, Tp. Hồ Chí Minh 15,3%, thì tốc độ tăng trưởng khách của du lịch Hà Nội là khá khiêm tốn. Tuy vậy, so với các địa phương khác, số lượng khách đến Hà Nội vẫn đảm bảo tăng trưởng ở mức khá cao. 

 

 

Biểu đồ 1: Số lượng khách du lịch đến Hà Nội giai đoạn 2011-2016

cocau2017-0

 

 

 

Nguồn: Sở Du lịch Hà Nội

1. Về khách du lịch quốc tế

Khách quốc tế đến Hà Nội từ nhiều vùng, lãnh thổ trên thế giới, trong đó khách từ các thị trường có khả năng chi trả cao như Tây Âu, Đông Bắc Á, Úc, Bắc Mỹ...; 40% số khách quốc tế du lịch Việt Nam có đến Hà Nội. Khách quốc tế đến Hà Nội còn thấp so với Thủ đô một số nước trong khu vực, chỉ bằng khoảng 1/6 lượng khách đến Bangkok, 1/3 lượng khách đến Singapore và Kuala Lumpur.1

 

Top 10 thị trường khách quốc tế trọng điểm đến Hà Nội giai đoạn 2011- 2016 không có nhiều biến động, bao gồm các thị trường: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Pháp, Mỹ, Thái Lan, Đức, Malaysia, Singapore, Thái Lan.

1: Năm 2015: Băng Cốc (Thái Lan): 19,3 triệu lượt khách, Kuala Lumpur (Malaysia) 23,1 triệu lượt khách. Singapore: 15,231 triệu lượt khách;

Biểu đồ 2: Cơ cấu thị trường khách du lịch quốc tế đến Hà Nội năm 2016

cocau2017-1

 

                                                                          Nguồn: Sở Du lịch Hà Nội

 

          Khách du lịch quốc tế đến Thủ đô với nhiều mục đích khác nhau, trong đó với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng chiếm khoảng 80%; còn lại là các mục đích khác như: khách công vụ, thương mại, hội nghị hội thảo, thực hiện các nhiệm vụ của Chính phủ, thăm thân,... chiếm 20%. Khách đến Hà Nội có lưu trú ngày càng tăng, với khoảng 2,9 triệu người năm 2016, tăng 23% so với năm 2015. Lượng khách lưu trú tại Hà Nội tăng mạnh trong thời gian qua cho thấy năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Thủ đô đã tăng lên.

 

          Bảng 1: Số liệu khách du lịch quốc tế đến Hà Nội và cả nước

 

Năm

Việt Nam

Hà Nội

Tỷ lệ % Hà Nội so Việt Nam

2010

5.049.855

1.700.000

33.66%

2011

6.014.032

1.887.000

31.4%

2012

6.847.678

2.100.000

30.67%

2013

7.572.352

2.580.900

34.08%

2014

7.874.312

3.010.000

38.1%

2015

7.943.651

3.263.743

41%

2016

10.012.735

4.020.306

40,1%

 

                                               Nguồn: Tổng cục thống kê, Sở Du lịch Hà Nội

 

Theo Quy hoạch phát triển du lịch thành phố Hà Nội, trong thời gian tới, du lịch Hà Nội vẫn tập trung đẩy mạnh, thu hút khách du lịch quốc tế ở các thị trường truyền thống: Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Trung Quốc, Đài Loan, Đức, Pháp, khu vực Bắc Mỹ, ASEAN…; Mở rộng thu hút khách du lịch đến từ các thị trường mới: Trung Đông và Bắc Âu… Đồng thời, phát triển thị trường nội địa thông qua việc tăng cường liên kết giữa Hà Nội với các vùng, miền, địa phương trong cả nước.

 

2. Về khách du lịch nội địa

 

Hà Nội là trung tâm phân phối khách chủ yếu của vùng phía Bắc, đặc biệt đối với các tỉnh khu vực đồng bằng sông Hồng. Khách du lịch nội địa đến Hà Nội để du lịch và trung chuyển đi du lịch ở các tỉnh lân cận. Thị trường khách du lịch nội địa đến Hà Nội chiếm tỷ trọng lớn hàng đầu cả nước, với lượng khách trung bình hàng năm chiếm trên 30% tổng lượng khách du lịch nội địa của Việt Nam. Năm 2011, Hà Nội đón 11.660.000 lượt, đến năm 2016 đón 17.810.000 lượt khách (tăng 153% so với năm 2011).

 

Khách du lịch nội địa đến Hà Nội với nhiều mục đích khác nhau và từ khắp các tỉnh, thành phố của cả nước với mục đích du lịch thuần tuý, du lịch kết hợp với các mục đích khác như đi công tác, thăm thân, chữa bệnh và mua sắm.

 

Biểu đồ 3: Khách du lịch nội địa đến Hà Nội giai đoạn 2011-2016

cocau2017-2

                                                                      Nguồn: Sở Du lịch Hà Nội

     Có thể thấy, du lịch Hà Nội trong giai đoạn 2011^2016 đã thu hút lượng lớn khách du lịch trong nước và quốc tế, một số lý do phải kể đến: Hà Nội có vị trí và địa thế đẹp, thuận lợi, là Thủ đô, trung tâm chính trị, kinh tế, vǎn hoá, khoa học công nghệ hàng đầu cả nước; Là đầu mối giao thông quan trọng của cả nước, có sân bay quốc tế Nội Bài; Sự hấp dẫn về tài nguyên du lịch với các giá trị nổi bật về tài nguyên du lịch nhân văn đặc biệt là các di tích lịch sử - văn hóa, các làng nghề truyền thống, các lễ hội... Được nhiều tạp chí du lịch có uy tín trên thế giới đánh giá cao là “điểm hấp dẫn thứ tư trên thế giới” hay “một trong những thành phố nên đến trong cuộc đời” như Trip Advisor,...

   Tuy vậy, để phát triển xứng đáng với tiềm năng du lịch và vị thế là Thủ đô của cả nước, du lịch Hà Nội cần phải tiếp tục phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ khách du lịch, tăng cường các chương trình xúc tiến quảng bá du lịch và đặc biệt nâng cao chất lượng và nâng tầm đẳng cấp hệ thống sản phẩm du lịch hiện có./. 

 Thanh Hiền

  nc-bvmt-2017-11. Kinh nghiệm xây dựng mô hình bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch trên Thế giới

1.1. Mô hình ma trận hệ sinh thái và du lịch (Ecology-Tourism Matrix, ETM)
   Mô hình ETM được áp dụng vào khu du lịch đặc biệt Munnar, Kerala (Ấn Độ) . Mục đích chủ yếu khi sử dụng mô hình ETM là nhằm đưa ra kế hoạch phát triển du lịch dựa vào bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên (hay cân bằng giữa phát triển du lịch và bảo vệ môi trường) cho khu du lịch đặc biệt Munnar (Munnar STZ).
   Mô hình ETM thực chất là việc sử dụng kết hợp hai chỉ số: nhạy cảm sinh thái (ESI) và hấp dẫn du lịch (TAI) để đánh giá từng điểm du lịch (điểm hấp dẫn/hoạt động khác nhau) trong khu du lịch. Điểm du lịch (nodes) trong mô hình ETM được hiểu là điểm có khả năng thu hút khách du lịch, có ý nghĩa bảo tồn và ý nghĩa du lịch. Việc nhận dạng các điểm được thực hiện thông qua bảng kê danh sách tài nguyên du lịch, được đưa ra thảo luận nhóm, có tham khảo ý kiến của chuyên gia và được điều tra cụ thể. Ngoài ra, trong mô hình ETM còn có các thành phố/thị xã chủ yếu (Hubs) nằm trong vùng, tiểu vùng của khu du lịch. Nodes và Hubs được kết nối với nhau theo nguyên tắc “Trục bánh xe và nan hoa”. Bên cạnh đó, trong mô hình ETM còn định rõ vùng và các thành phần chiến lược cấu thành khu du lịch đặc biệt (như: vùng, tiểu vùng và thành phần kết nối) như sơ đồ dưới đây (U.V Jose, Muhammed, Vijayakumar S., Sonia Joes, 2009).

   Mục tiêu phát triển du lịch bền vững đã được các quốc gia trên thế giới hướng tới từ thập niên 90 của thế kỷ XX. Du lịch bền vững được hiểu là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển hoạt động du lịch trong tương lai. Phát triển du lịch bền vững giảm thiểu các tác động xấu của du lịch đồng thời góp phần vào công tác bảo tồn các giá trị tốt cho cộng đồng địa phương, cả về kinh tế và xã hội. Đại hội đồng Liên hợp quốc (UNGA/GA) tuyên bố năm 2017 là “Năm quốc tế về Du lịch bền vững vì sự phát triển” nhằm xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn du lịch nói riêng và cho loài người, hành tinh, hòa bình và thịnh vượng nói chung.

   Việt Nam có nhiều tiềm năng du lịch, đã và đang phát triển nhiều loại hình du lịch góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Giai đoạn gần đây, để đảm bảo phát triển du lịch một cách bền vững, tại một số địa phương, điểm đến, đã có nhiều hình thức, hành động thiết thực điển hình như Đà Nẵng – Thành phố nhận được nhiều danh hiệu và có mức tăng trưởng về du lịch tương đối bền vững, đáng ghi nhận (1). Để đạt những kết quả nổi trội đó, cơ quan quản lý nhà nước; doanh nghiệp du lịch; cộng đồng dân cư Đà Nẵng đã cùng “chung sức, chung lòng” hướng tới mục tiêu chung: coi khách du lịch là tâm điểm, làm cho khách thỏa mãn và có ý định quay lại trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn, tu tạo các nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển trong tương lai, cụ thể:

2017-dlvn    Trong giai đoạn hiện nay, ngành Du lịch đang tích cực nghiên cứu giải pháp giữ vững mức tăng trưởng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đạt ít nhất 30%/năm, khách du lịch nội địa tăng 12%/năm[1]  và tạo bước đột phá trong việc thu hút khách du lịch, đạt mục tiêu đón 17-20 triệu lượt khách du lịch quốc tế, 82 triệu lượt khách du lịch nội địa vào năm 2020[2]. Bên cạnh đó, bài toán về quỹ phát triển du lịch nhằm hỗ trợ công tác xúc tiến quảng bá (XTQB), mở rộng thị trường, đào tạo nguồn nhân lực… đang cần được giải đáp kịp thời. Ngân sách quảng bá du lịch của Việt Nam là 2 triệu USD/năm, thấp nhất trong ASEAN. Trong khi mỗi năm Thái Lan chi 69 triệu USD cho công tác XTQB và thu về hơn 32,5 triệu lượt khách quốc tế[3], Xinh-ga-po (80 triệu USD/năm), Ma-lai-xi-a (105 triệu USD/năm) thì việc nghiên cứu, nắm bắt cơ hội tiếp thị trong điều kiện mức kinh phí hạn chế là điều hết sức quan trọng.

   DulichmoinctdI. Nghiên cứu một số điển hình

   Năm 2017, ngành Du lịch Việt Nam ghi nhận 2 sự kiện quan trọng là sự ra đời của Nghị quyết số 08-NQ/TW do Bộ Chính trị ban hành ngày 16/1/2017 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và Luật Du lịch sửa đổi (sau đây gọi là Luật Du lịch) được Quốc hội chính thức thông qua ngày 19/6/2017 và có hiệu lực vào 1/1/2018. Trong mối tương quan giữa 3 nhiệm vụ then chốt ngành Du lịch đã thực hiện trong nhiều năm qua dưới sự hỗ trợ của dự án EU-ESRT, đó là: Xây dựng thể chế, chính sách; Nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển sản phẩm; và Đào tạo phát triển nguồn nhân lực, nhiều sản phẩm du lịch mới đã thu hút sự quan tâm của toàn ngành và của xã hội, đã có tác động tích cực góp phần làm đa dạng sản phẩm du lịch của Việt Nam, và đã khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và văn hóa bản địa và thế mạnh của địa phương. Trong bài nghiên cứu - trao đổi này, tôi lựa chọn một số sản phẩm du lịch mới hiện nay để nghiên cứu như những điển hình tốt về du lịch trong nước để đưa ra một số nhận định đối với sự phát triển sản phẩm du lịch mới nói chung trong tương lai.

   1. Thái Lan – Văn hóa Thái là lợi thế cạnh tranh trong phát triển sản phẩm du lịch


Asean mai 2 
Chùa Wat Phra That Doi Suthep - Chiang Mai Thái Lan

   Thái Lan là nước có ngành du lịch phát triển mạnh ở châu Á. Truyền thống văn hóa và sự mến khách của nhân dân Thái Lan là yếu tố quan trọng góp phần tăng cường thu hút khách du lịch đến với đất nước này. Ngành du lịch là ngành thu được nguồn ngoại tệ chủ yếu và cao hơn các ngành sản xuất khác của Thái Lan. Thị trường khách quốc tế chủ yếu của Thái Lan là các nước trong khối ASEAN, châu Á, châu Âu như Pháp, Đức, Bỉ…
   Cơ quan Du lịch Quốc gia Thái Lan, gọi tắt là TAT là cơ quan quản lý nhà nước cao nhất, có trách nhiệm xúc tiến và phát triển du lịch Thái Lan. TAT là cơ quan trực thuộc Chính phủ, hoạt động độc lập. Đứng đầu Cơ quan Du lịch Quốc gia là Thống đốc. Giúp việc cho Thống đốc có Văn phòng Thống đốc, Hội đồng Tư vấn, Viện Đào tạo Khách sạn và Du lịch, Văn phòng Kinh doanh Du lịch Bangkok, Ban Quản lý hoạt động khu du lịch và Thanh tra Tài chính nội bộ… Sự hoạt động của TAT rất đạt hiệu quả, bởi có chiến lược và biết tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu thị trường và xúc tiến quảng bá, sau đó đưa ra định hướng và những giải pháp cụ thể cho các doanh nghiệp thực hiện. TAT luôn phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành có liên quan đến du lịch để chỉ đạo các doanh nghiệp triển khai các hoạt động du lịch; qua đó, liên tục đề xuất, trình Chính phủ phê duyệt từ các chính sách, chiến lược cho đến các chiến dịch, chương trình xúc tiến quảng bá từng thị trường khách cụ thể, trong từng giai đoạn nhất định.
   Trong nhiều năm liên tục, một trong những yếu tố quan trọng đã giúp ngành Du lịch Thái Lan mang lại lợi nhuận cao nhất cho quốc gia này là các chiến dịch quảng bá và xúc tiến đa dạng như: Năm 1982 là Rattanakosin Bicentennial; 1987 và năm 1992 đều có chủ đề là Năm Du lịch Thái Lan; hai năm liền 1998 - 1999 là Chiến dịch Amazing Thailand… Năm 1997, khi Thái Lan rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế thì chính du lịch là ngành kinh tế chủ đạo góp phần đưa nền kinh tế Thái Lan từ chỗ thâm hụt, giảm sút đến mức ổn định và dần tăng trưởng trở lại.
   Tuy nhiên, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Thái Lan về du lịch là tăng cường, tập trung thu hút khách, tăng nguồn thu cho ngân sách, nhưng sự bùng nổ du lịch đó đã mang đến cho Thái Lan những tác động tiêu cực đối với các tài nguyên du lịch như vấn đề suy thoái, ô nhiễm môi trường, thay đổi sắc thái nền văn hóa. Nhận thức được ảnh hưởng tiêu cực đó, Chính phủ Thái Lan đã chuyển mục tiêu phát triển du lịch, tập trung vào việc nâng cao phần đóng góp tăng trưởng kinh tế của đất nước, bảo vệ môi trường trên cơ sở phát triển một cách ổn định và cân bằng, khuyến khích phát triển các nguồn lực, đảm bảo năng lực tham gia vào quá trình phát triển du lịch.
   Thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, TAT đã đưa ra các chính sách cụ thể nhằm xúc tiến, phát triển du lịch trong giai đoạn tiếp theo như sau:
   - Khôi phục và giữ gìn các tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường, văn hóa nghệ thuật thông qua việc ưu tiên phát triển du lịch bền vững.
   - Thúc đẩy hợp tác giữa khu vực nhà nước và tư nhân, phối hợp với cộng đồng địa phương trong quá trình khai thác, phát triển và quản lý tài nguyên du lịch.
   - Hỗ trợ phát triển các đối tượng cung cấp dịch vụ cho du khách thông qua việc áp dụng các tiến bộ về khoa học, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
   - Tăng cường hợp tác với các nước láng giềng, phối hợp xúc tiến, quảng bá phát triển các hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới giao thông và các tiện ích phục vụ du lịch.
   - Khuyến khích phát triển nguồn nhân lực, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ du lịch cả về số lượng và chất lượng.
   - Thực hiện nghiêm túc các quy định trong việc đảm bảo an ninh cho du khách và môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp du lịch.
Ngoài ra, đối với các vấn đề liên quan đến du lịch, Thái Lan cũng có những chính sách cụ thể như: đối với Hàng không; giao thông đường bộ; du lịch đường biển; vấn đề thủ tục visa và cảnh quan, môi trường du lịch…
   Thái Lan xác định chiến lược phát triển sản phẩm du lịch với mục tiêu đưa du lịch Thái Lan có khả năng cạnh tranh quốc tế, đảm bảo cuộc sống cho người Thái và đảm bảo cân bằng kinh tế, xã hội. Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch 2012-2016 xác định phát triển mô hình chiến lược đã thực hiện tạo dựng các cơ hội mới vì sự phát triển bền vững trong tương lai. 4 chiến lược thành phần: xây dựng khả năng cạnh tranh cho du lịch của đất nước; tạo dựng cơ hội phát triển mạnh mẽ; phát triển gắn với tài nguyên thiên nhiên; tăng cường công tác quản lý của chính phủ.
7 chủ đề sản phẩm du lịch được xác định trong chiến lược và xác định chi tiết theo các hạng mục:
   Năm 2015, ngành du lịch Thái Lan lựa chọn những sản phẩm du lịch trong đó khách du lịch được trải nghiệm về “Thainess” (đặc trưng Thái). Các sản phẩm được lựa chọn phát triển trong kế hoạch này đưa ra những định hướng phát triển cụ thể về “Điểm đến PHẢI THĂM”, “Hoạt động PHẢI LÀM”, “Sản phẩm PHẢI MUA” và “Món ăn PHẢI NẾM”.
 Ẩm thực Thái Lan – du lịch ẩm thực
 Nghệ thuật Thái Lan – du lịch văn hóa nghệ thuật
 Cuộc sống của người Thái Lan – du lịch trải nghiệm cuộc sống bản địa
 Sức khỏe Thái Lan – du lịch chăm sóc sức khỏe
 Lễ hội truyền thống Thái Lan – du lịch lễ hội
 Sự thông thái của Thái Lan – du lịch tìm hiểu văn hóa truyền thống các dân tộc
 Niềm vui Thái Lan – du lịch vui chơi giải trí

   2. Singapore – Du lịch MICE khẳng định thế mạnh
   Singapore là một quốc đảo nhỏ, tài nguyên hạn chế, nhưng đã biết phát huy triệt để tiềm năng, thế mạnh về vị trí địa lý và nguồn lực con người để có những bước phát triển vượt bậc. Diện tích quốc đảo chỉ có 710 km2 nhưng có đến 5,2 triệu người đang sinh sống, làm việc ở đây, trong đó có gần 2 triệu người nước ngoài. Trong các thành công của Singapore thời gian qua phải kể đến sự thành công của chính sách phát triển du lịch phù hợp cho từng giai đoạn của Chính phủ Singgapore.
   Từ năm 1965 đến nay, Singapore đã hoạch định chiến lược, xây dựng 6 kế hoạch phát triển du lịch khác nhau, đó là: “Kế hoạch Du lịch Singapore” (năm 1968), “Kế hoạch Phát triển du lịch” (năm 1986), “Kế hoạch Phát triển chiến lược” (năm 1993), “Du lịch 21” (năm 1996), “Du lịch 2015” (năm 2005), “Địa giới du lịch 2020” (năm 2012).

Asean mai 3
Nguồn: Singapore Tourism Board

   Với “Kế hoạch phát triển du lịch” (năm 1986), Singapore chủ trương bảo tồn và khôi phục các khu lịch sử văn hóa như: Khu phố của người Hoa, Tanjong Tagar, Little India, Kampong Glam, sông Singapore. Với “Kế hoạch Phát triển chiến lược” (năm 1993), Singgapore tập trung phát triển các sản phẩm du lịch mới như: du thuyền, du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục, du lịch trăng mật; phát triển các thị trường du lịch mới; tổ chức các lễ hội lớn mang tầm cỡ quốc tế; tập trung phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch; trao các giải thưởng về du lịch; giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về du lịch…
   Năm 1996, Singapore triển khai “Du lịch 21”, chuẩn bị và thực hiện tầm nhìn dài hạn cho sự phát triển của du lịch trong Thế kỷ 21, với các chiến lược thị trường du lịch mới nổi, chiến lược du lịch khu vực, chiến lược phát triển sản phẩm du lịch mới, chiến lược nguồn vốn du lịch, chiến lược “Nhà vô địch du lịch Singapore”.
   Trong “Du lịch 2015”, Singapore tập trung phát triển các thị trường chính với phương châm tạo sự hiểu biết tốt hơn về Singapore, phát triển Singapore thành một điểm du lịch “phải đến”, cải thiện tiêu chuẩn dịch vụ nhằm cung cấp các dịch vụ đáng nhớ cho khách du lịch, nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch, phát triển các doanh nghiệp du lịch và nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệp, phát triển các sản phẩm trọng tâm của du lịch… Năm 2012, Singgapore chi 300 triệu đô Sing để tổ chức các sự kiện du lịch, chi 340 triệu đô Sing phát triển các sản phẩm du lịch, chi 265 triệu đô Sing phát triển nguồn nhân lực du lịch. Đến năm 2015, Singapore đầu tư cho Quỹ phát triển du lịch là 2 tỷ đô Sing, dự kiến đón khoảng 17 triệu khách du lịch quốc tế và doanh thu từ du lịch khoảng 30 tỷ đô Sing.
   Singapore xây dựng chiến lược phát triển du lịch MICE, xác định đưa quốc gia này trở thành cường quốc dẫn đầu trong khu vực Châu Á về du lịch hội nghị hội thảo. Đồng thời, Singapore sẽ phát triển trở thành trung tâm dịch vụ và nghỉ dưỡng của khu vực. Chiến lược này xác định ra các dự án du lịch lớn cần phải thực hiện như Giải đua công thức 1 (Formula OneTM Singapore Grand Prix), Khu phức hợp nghỉ dưỡng (Integrated Resorts) và Vòng đu quay khổng lồ (Singapore Flyer)…
   Xác định phát triển du lịch MICE là trọng tâm: với lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, là trung tâm của các hoạt động giao thương lớn trong khu vực, Singapore xác định phát triển du lịch MICE là trọng tâm của chiến lược phát triển sản phẩm du lịch.
   Từ năm 1971, quốc gia này đã xúc tiến hình ảnh “Trung tâm hội nghị của phía Đông”, cùng với việc thành lập Cục phát triển Hội nghị Singapore năm 1974 (Singapore Convention Bureau - SCB) với nhiệm vụ xây dựng nhận thức cho cả thế giới về châu Á – một điểm đến tổ chức hội nghị hội thảo và nghĩ đến Singapore – điểm đến MICE tốt nhất ở Châu Á.
   Xác định được mục tiêu, Singapore bắt tay với các khách sạn lớn hàng đầu thế giới phát triển các trung tâm hội nghị, các nhà đầu tư tư nhân để phát triển các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại. Đến cuối những năm 1990, Singapore đã có đủ các cơ sở hạ tầng, VCKT cần thiết để tổ chức các sự kiện MICE tầm cỡ thế giới như Suntec Singapore International Convention, Exhibition Centre và the Singapore Expo.
   Đến năm 1996, SCB đổi tên thành Cục phát triển Hội nghị và Triển lãm Singapore (SECB) để mở rộng sang lĩnh vực tổ chức triển lãm. Cùng với đó là sự hợp tác với các bên đối tác là doanh nghiệp trong lĩnh vực tổ chức sự kiện, lữ hành để nâng cao chất lượng trải nghiệm du lịch MICE cho khách hàng là người đi du lịch công vụ.
   Hiện nay, Singapore đã trở thành điểm đến dẫn đầu thế giới về du lịch MICE, lĩnh vực này đóng góp hơn 30% vào tổng thu từ du lịch của quốc gia. Dù vậy, quốc gia này vẫn nỗ lực để thay đổi, phát triển không ngừng, để duy trì vị trí dẫn đầu.

   3. Malaysia – du lịch nghỉ dưỡng

Asean mai 4
Nguồn: Malaysia Tourism

   Malaysia là đất nước có ngành Du lịch phát triển nhất trong khu vực. Mục tiêu phát triển du lịch của Malaysia đến năm 2020 trở thành nước phát triển về du lịch hàng đầu trong khu vực và quốc tế. Thông điệp chính của ngành du lịch thể hiện mục tiêu và quan điểm phát triển: “Định vị Malaysia là điểm đến du lịch hàng đầu trong nhận thức thị trường và xây dựng ngành du lịch thành ngành có đóng góp chính trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”. 10 thị trường khách du lịch hàng đầu của Malaysia theo thứ tự quan trọng bao gồm Singapore, Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc, Brunay, Ấn Độ, Australia, Philipines, Anh và Nhật Bản.
   Trong chiến lược chung của Malaysia về chuyển dịch kinh tế, ngành Du lịch xây dựng kế hoạch chuyển dịch phát triển du lịch đến năm 2020 tập trung vào việc phát triển sản phẩm và thị trường với mục tiêu chính là tập trung vào thị trường có khả năng chi trả cao, đẩy mạnh chương trình tiêu dùng của khách du lịch.
   Hai hướng chính trong quan điểm phát triển là: bảo vệ, bảo tồn và giữ gìn môi trường: phát triển du lịch xanh, giải thưởng khách sạn xanh, chiến dịch quốc gia về một Malaysia xanh, một Malaysia sạch và phát triển toàn diện, chú trọng tính cân bằng và tính bền vững (tầm quan trọng của lợi ích cộng đồng).
   Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay. Malaysia xác định phải có những sáng kiến và cải tiến trong phát triển sản phẩm. Các sáng kiến tập trung vào tổ chức các sự kiện tầm quan trọng quốc gia gồm: “Malaysia ngôi nhà thứ 2 của tôi” để khuyến khích người nước ngoài mua nhà tại Malaysia để đi lại nghỉ ngơi, du lịch và kéo theo người thân và bạn bè tới du lịch tại đây. Ngoài ra, Malaysia cũng tập trung vào duy trì và khuếch trương sản phẩm du lịch mua sắm. Tập trung các sản phẩm cho thị trường du lịch cao cấp và xác định địa điểm cụ thể và từng hoạt động: nghỉ dưỡng tại các khu du lịch, vui chơi giải trí, các loại hình thể thao, các địa điểm mua sắm. Đặc biệt tập trung vào đẩy mạnh du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục và cuối cùng là du lịch MICE.
   Malaysia đã khai thác ba nét nổi bật nhằm tạo nên sự độc đáo và hấp dẫn để phát triển du lịch, thu hút du khách. Đầu tiên, Malaysia là một quốc gia đa dân tộc, sự pha trộn nhiều nền văn hóa khác nhau tạo nên một bản sắc văn hóa rất riêng. Với hơn 60% dân số theo đạo Hồi, những nét văn hóa đạo Hồi của Malaysia mang đến trải nghiệm thú vị cho du khách. Bên cạnh đó, Malaysia còn có văn hóa ẩm thực đặc sắc, bởi đây là nơi giao thoa của nhiều nền ẩm thực hàng đầu. Malaysia cũng là đất nước có nhiều điểm đến hấp dẫn, du khách có thể thể thỏa sức khám phá vẻ đẹp đích thực của châu Á từ các thành phố sang trọng, rừng cây nhiệt đới cho đến những vùng núi cao, cao nguyên hoang sơ, bãi biển đẹp. Đặc biệt, nét nổi bật của du lịch Malaysia là các sản phẩm du lịch đa dạng, đẳng cấp quốc tế với mức giá cạnh tranh. Nổi bật là du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, thể thao mạo hiểm, các địa điểm mua sắm… Malaysia hiện đang đẩy mạnh phát triển các sản phẩm mới như du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục và du lịch công vụ (M.I.C.E). Để thu hút đông đảo du khách hơn nữa, Malaysia luôn chú trọng sáng tạo các sản phẩm du lịch mới, thoản mãn mọi nhu cầu của du khách khắp nơi trên thế giới…
   Về quy hoạch du lịch, Malaysia không có một quy hoạch tổng thể phát triển du lịch như cách tiếp cận của Việt Nam mà chỉ có “Kế hoạch chuyển đổi du lịch Malaysia đến năm 2020” nhằm thu hút các thị trường trường du lịch có khả năng chi trả cao và tăng chi tiêu du lịch. Các khu vực, địa bàn phát triển du lịch chính với các chức năng cụ thể đã được xác định trong Chiến lược Phát triển du lịch từ những năm 1970 vẫn được duy trì. Căn cứ vào định hướng có tính quốc gia này, các địa phương, thậm chí doanh nghiệp du lịch sẽ có những kế hoạch phát triển du lịch cụ thể.

   4. Indonesia – du lịch sinh thái và cộng đồng
   Indonesia đã xây dựng xong chiến lược tổng thể phát triển du lịch đến năm 2025, theo đó tư tưởng chính sẽ tập trung nâng cao chất lượng du lịch. Mục đích của chiến lược phát triển du lịch đến năm 2025 của Indonesia sẽ phát triển khoảng 50 điểm đến quy mô quốc gia với một số “hành lang du lịch”, lượng khách quốc tế dự kiến đến thời điểm này dự kiến đạt 25 triệu lượt người. Cùng với chiến lược là một kế hoạch phát triển đến năm 2015 cũng đã hoàn tất với nội dung tập trung phát triển 3 loại hình du lịch chính là du lịch sinh thái, du lịch nông thôn và du lịch biển. Đối với du lịch nông thôn sẽ triển khai trên 54 điểm, du lịch sinh thái là 50 điểm ở các vườn quốc gia.

Asean mai 1
Nguồn: Indonesia Tourism

   Indonesia có chủ trương phát triển du lịch dựa vào cộng đồng. Chính phủ hỗ trợ phát triển bằng việc cho thuê đất với giá rẻ để cộng động làm du lịch, đồng thời hướng dẫn và đào tạo cộng đồng về nghiệp vụ du lịch. Các sản phẩm chính được định hướng: du lịch di sản, du lịch sinh thái, du lịch đánh golf, du lịch lặn biển, du lịch MICE. Ở Indonesia, Vụ Thị trường của Cục Xúc tiến Indonesia có nhiệm vụ theo dõi diễn biến thị trường, định hướng và tổ chức các hoạt động xúc tiến quảng bà du lịch ở cấp quốc gia. Từ việc theo dõi thị trường và đánh giá tình hình, xu hướng phát triển kinh tế - xã hội và du lịch, Indonesia chuyển hướng thu hút thị trường khách du lịch ASEAN. Ngân sách xúc tiến quảng bá du lịch năm 2010 của Indonesia vào khoảng 40 triệu USD.
   Đối với việc phát triển sản phẩm du lịch, đặc biệt tại địa bàn đảo Bali – một trong những điểm du lịch nổi bật của Indonesia thì những thành công chính nằm ở vấn đề như tôn trọng ý kiến, tập tục và tư duy của người bản địa; nâng cao nhận thức về phát triển du lịch theo một quá trình; ban hành các quy định chặt chẽ và rõ ràng về kiến thức, có quan điểm bảo tồn và giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống.

 

ThS. Nguyễn Hoàng Mai – Phòng QLKH&HTQT

   XuhuongKinh nghiệm của Thái Lan

   Nhận thức được tầm quan trọng của phát triển du lịch đối với nền kinh tế quốc dân nên Thái Lan là một trong những nước tiên phong trong du lịch bắt tay vào làm du lịch và trở thành “cường quốc du lịch” trong khu vực.

   Xu hướng du lịch sinh thái

  Những năm gần đây, xu hướng đi du lịch sinh thái ngày càng phát triển vì con người ngày càng muốn gần gũi với thiên nhiên. Tổng cục Du lịch Thái Lan (TAT) và các doanh nghiệp tư nhân đã nhanh chóng nắm bắt được xu hướng này của khách du lịch và nhanh chóng phát triển rất nhanh loại hình du lịch này. Nhận thức được thực tế là Thái Lan được tạo hóa ban tặng nhiều kỳ quan thiên nhiên tuyệt đẹp với những cảnh quan hoang dã phù hợp với loại hình du lịch sinh thái, chính phủ Thái Lan đã đầu tư nhiều tiền vào phát triển du lịch sinh thái và kết quả là Thái Lan đã trở thành điểm đến quen thuộc đối với những du khách yêu thích khám phá, tìm hiểu tự nhiên. Trong suốt hai thập kỷ qua, những hoạt động như xe đạp leo núi, thả bè trên sông, cắm trại, ngắm chim choc, tự nhiên, lặn biển, leo núi đá…rất phát triển trong những khu du lịch tự nhiên của Thái Lan, đặc biệt là khu vực phía Bắc, Đông và Nam Thái Lan. Với hành trình Bangkok - Pattaya - Kanchanaburi sẽ đưa du khách đến không gian xanh của những cánh rừng nguyên sinh bát ngát, những ngọn núi đồi hùng vĩ. Ở Kanchanaburi, nơi địa hình thung lũng rộng lớn bao quanh bởi núi đồi và những cánh rừng nguyên sinh cùng ba con sông nổi tiếng Khwae Noi, Khwae Yai và Mae Klong hợp lưu với nhau, các doanh nghiệp du lịch Thái đã đầu tư vào các hoạt động vui chơi giải trí gắn liền với sông nước thú vị như: vượt thác, tắm thác giữa đại ngàn núi rừng bao la với phương pháp massage bằng nước cực kỳ hiệu nghiệm. Bên cạnh đó, Kanchanaburi còn thu hút du khách với trải nghiệm hoàn toàn độc đáo, mới lạ trên lưng những chú voi khổng lồ để du ngoạn cảnh sắc hai bên cánh rừng mênh mông.

Trang 1 / 3